Sở khanh là cách gọi người đàn ông lừa dối trong chuyện tình cảm: hứa hẹn ngọt ngào, được người ta tin rồi bỏ đi, lật lọng không chút áy náy. Chữ này vốn là tên một nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Khi viết hoa, Sở Khanh là nhân vật ấy; viết thường, sở khanh là danh từ chung chỉ cả một loại người.
| Nghĩa ngắn | Kẻ phụ bạc, lật lọng, lừa dối trong tình duyên |
| Gốc từ | Tên nhân vật Sở Khanh trong Truyện Kiều (Nguyễn Du) |
| Loại từ | Danh từ; hay đi trong cụm “đồ sở khanh”, “gã sở khanh”, “thói sở khanh” |
| Sắc thái | Chê trách nặng, khẩu ngữ; dùng để mắng hoặc cảnh báo |

Sở Khanh trong Truyện Kiều là ai?
Sở Khanh xuất hiện khi Thúy Kiều đã bị Mã Giám Sinh đưa về lầu xanh của Tú Bà. Kiều không chịu theo nghề, có lúc đã tìm đến cái chết. Tú Bà muốn bẻ gãy sự kháng cự ấy nên bày một màn kịch, và Sở Khanh là người được thuê đóng vai chính.
Hắn hiện ra như một chàng thư sinh chải chuốt, nghe tiếng thơ của Kiều thì họa vần, tỏ ra thương xót người con gái lạc loài. Hắn hứa có ngựa tốt, có người hầu khỏe, sẽ đưa nàng thoát khỏi chốn ấy. Kiều cả tin, cùng hắn trốn đi trong đêm. Đi được nửa đường, Sở Khanh bỏ nàng lại một mình giữa rừng. Người của Tú Bà ập tới bắt Kiều về, đánh đập tàn nhẫn, và nàng không còn đường nào ngoài việc chịu khuất phục.
Cái đáng sợ ở nhân vật này là hắn không bị dồn vào thế phải lừa. Hắn lừa vì được trả tiền, lừa một người đang ở bước đường cùng, và lừa bằng chính lời hứa cứu người. Muốn hiểu thêm chốn Kiều bị giam hãm, có thể đọc bài chữ lầu xanh và gốc thanh lâu trong thơ Nguyễn Du.
Từ tên riêng thành danh từ chung
Từ điển tiếng Việt xếp sở khanh là danh từ, giải nghĩa là kẻ phụ bạc, lật lọng trong tình duyên. Một tên người trở thành một từ trong từ điển là chuyện hiếm; tiếng Việt chỉ làm thế với vài nhân vật để lại ấn tượng quá đậm, và Sở Khanh là một trong số đó.
Trong lời ăn tiếng nói, nghĩa của từ có hai lớp:
- Lớp chính: người đàn ông dùng lời đường mật để chiếm lòng tin, tình cảm của phụ nữ rồi bỏ rơi. Ví dụ: Hứa cưới suốt ba năm rồi biến mất khi cô ấy cần nhất, đúng là đồ sở khanh.
- Lớp mở rộng: chỉ thói hứa hẹn rồi nuốt lời nói chung, không cứ chuyện yêu đương. Ví dụ: Hứa trả nợ cả chục lần mà lần nào cũng lặn mất, thói sở khanh ấy ai mà tin nổi.
Vì gắn với một nhân vật nam, sở khanh hầu như chỉ dùng cho đàn ông. Gọi một người phụ nữ là sở khanh nghe lệch tai; khi ấy người ta thường nói “lừa tình” hay “bạc tình”.
Phiên tòa giữa lầu xanh
Ít lâu sau vụ trốn chạy, Sở Khanh lại vác mặt đến lầu xanh như chưa có chuyện gì. Kiều đem tờ thư hẹn của hắn ra làm bằng chứng, vạch mặt kẻ đã nuốt lời trước đông người. Người xung quanh chê hắn bất nghĩa, cười hắn vô lương, và Sở Khanh phải lủi đi. Nguyễn Du chốt lại chân dung nhân vật bằng hai câu:
Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,
Một tay chôn biết mấy cành phù dung!
“Cành phù dung” là hình ảnh những người con gái đẹp; “một tay chôn” cho thấy Kiều không phải nạn nhân đầu tiên. Hắn là kẻ lừa gạt có nghề, có tiếng. Có lẽ chính câu thơ này đã đóng dấu cái tên Sở Khanh vào tiếng Việt. Về sau, khi Kiều được Từ Hải giúp đền ơn trả oán, Sở Khanh cũng có mặt trong số những kẻ bị đưa ra xử. Màn đền đáp ấy được phân tích ở bài đoạn Kiều đền ơn, trả oán bên quân trướng Từ Hải.
Sở khanh, bạc tình, trăng hoa: khác ở đâu?
| Từ | Trọng tâm | Mức độ chê |
|---|---|---|
| Sở khanh | Cố ý lừa: hứa hẹn để được tin, rồi bỏ đi | Rất nặng |
| Bạc tình | Không giữ trọn tình nghĩa, dễ quên người cũ | Nặng |
| Trăng hoa, lăng nhăng | Quan hệ cùng lúc với nhiều người, thiếu chung thủy | Vừa đến nặng |
| Chung thủy, chung tình (trái nghĩa) | Một lòng với người mình yêu, giữ lời hứa | Lời khen |
Người trăng hoa chưa chắc đã lừa ai; người bạc tình có thể chỉ là hết yêu. Sở khanh thì luôn có một lời hứa bị phản bội ở giữa. Chữ lăng nhăng còn một nghĩa khác là linh tinh, không đâu vào đâu, được giải thích ở bài hai nghĩa của chữ lăng nhăng. Gần với sở khanh trong tiếng lóng hiện nay có chữ “trap boy”, nhưng trap boy nhấn vào kiểu thả thính, gây ảo tưởng, còn sở khanh nặng hơn vì kèm hẳn lời hứa và sự bỏ rơi.
Một chi tiết nên nhớ khi đọc lại đoạn trích: Sở Khanh lừa Kiều bằng đúng điều nàng khao khát nhất là được thoát ra. Gọi ai là sở khanh, vì thế, là nói họ đã lợi dụng hi vọng của người khác.
Một tiếng chửi khác hay đi chung với sở khanh là chữ ma cô, gốc tiếng Pháp, chỉ kẻ gian manh, đểu giả.
Khác với sở khanh cố ý lừa tình, người được gọi là đàn ông sát gái chỉ có tài làm phụ nữ xiêu lòng, lời nói chưa hẳn mang ý chê.
Gọi ai là sở khanh cho đúng chỗ
Đồ sở khanh nghĩa là gì?
Đây là câu mắng dành cho người đàn ông đã hứa hẹn, chiếm được tình cảm rồi bỏ rơi người kia. Chữ “đồ” làm câu nói thêm khinh miệt, nên chỉ nên dùng khi thật sự bức xúc, không hợp với văn viết.
Sở Khanh có phải người có thật không?
Sở Khanh là nhân vật văn học. Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa trên cốt truyện tiểu thuyết Trung Quốc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nên các nhân vật đều là hư cấu.
Sở khanh viết hoa hay viết thường?
Nói về nhân vật trong Truyện Kiều thì viết hoa: Sở Khanh. Dùng như danh từ chung chỉ loại người lừa dối thì viết thường: một gã sở khanh, thói sở khanh.
Sở khanh tiếng Anh là gì?
Không có từ tương đương hẳn. Gần nhất là philanderer hoặc womanizer (người đàn ông lăng nhăng), còn ý lừa rồi bỏ có thể diễn đạt bằng a man who deceives and abandons women.