Nội dung là phần nằm bên trong một sự vật, thứ mà hình thức bao bọc và làm lộ ra. Với tác phẩm văn học, nội dung là những gì tác giả nói tới và gửi gắm: đề tài, chủ đề, tư tưởng, tình cảm. Khi đề bài yêu cầu “nêu nội dung chính”, người làm bài cần trả lời hai ý: văn bản viết về điều gì, và qua đó muốn nói lên điều gì.
| Khái niệm | Phần bên trong của sự vật, được hình thức bao bọc, thể hiện |
| Nghĩa trong văn học | Đời sống được phản ánh cùng tư tưởng, tình cảm của tác giả trong tác phẩm |
| Gốc từ | Hán Việt 內容: nội (bên trong) + dung (chứa, đựng) |
| Thuộc | Lí luận văn học, đi thành cặp với khái niệm hình thức |
| Dấu hiệu nhận biết | Trả lời được câu hỏi: viết về ai, về cái gì, để nói lên điều gì |

Nội dung: cái được chứa ở bên trong
Hai chữ Hán làm nên từ này đã nói gần đủ nghĩa. Nội (內) là bên trong, như trong nội địa, nội tâm. Dung (容) là chứa, đựng, như trong dung tích, dung nạp. Ghép lại thành “cái được đựng ở trong”. Hình dung một chiếc hộp quà: giấy gói, nơ, kiểu dáng là hình thức; món quà nằm bên trong là nội dung. Bỏ hộp đi thì quà vẫn còn, nhưng trao tay sẽ khác hẳn.
Từ điển tiếng Việt ghi cho danh từ nội dung hai nghĩa. Nghĩa thường gặp là phần ở phía trong sự vật, thứ được hình thức gói lại và đưa ra ngoài, ví dụ nội dung của tác phẩm. Nghĩa thứ hai dùng trong thể thao: một môn hoặc một hạng mục thi đấu, như thi ở nội dung chạy 100 mét.
Vào giờ Ngữ văn, khái niệm này được thu hẹp lại. Theo cách trình bày trong sách Ngữ văn 10 (chương trình cũ, bài “Nội dung và hình thức của văn bản văn học”), nội dung của tác phẩm là hiện thực đời sống được nhà văn chọn lọc, cùng với cách nhà văn nhìn, nghĩ và cảm về hiện thực ấy. Nó không chỉ là “chuyện gì xảy ra” mà còn là “tác giả nghĩ gì về chuyện đó”.
Nội dung một tác phẩm gồm những lớp nào?
Khi phân tích, người ta thường tách nội dung thành mấy yếu tố đi từ ngoài vào trong:
- Đề tài: phạm vi đời sống được nói tới, như người nông dân trước Cách mạng, tình mẹ con, thiên nhiên mùa thu. Bài đề tài khác chủ đề ở chỗ nào giải thích kĩ hơn.
- Chủ đề: vấn đề chính tác giả đặt ra từ đề tài ấy. Cùng viết về người nông dân, có tác phẩm xoáy vào cái đói, có tác phẩm xoáy vào nhân cách.
- Tư tưởng: thái độ, cách đánh giá của tác giả với vấn đề, như ngợi ca, cảm thông hay phê phán.
- Cảm hứng chủ đạo: dòng cảm xúc bao trùm cả tác phẩm, có thể là bi tráng, trữ tình, trào phúng.
Sách giáo khoa mới ít khi bắt học sinh gọi tên đủ bốn lớp. Nhưng khi đề yêu cầu nêu nội dung, câu trả lời tốt thường chạm được ít nhất đề tài và tư tưởng.
Nội dung và hình thức: bảng đặt cạnh nhau
| Tiêu chí | Nội dung | Hình thức |
|---|---|---|
| Trả lời câu hỏi | Nói về cái gì, nhằm điều gì | Nói bằng cách nào |
| Gồm | Đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng | Ngôn từ, hình ảnh, kết cấu, thể loại, biện pháp tu từ |
| Người đọc gặp | Sau, khi đã đọc kĩ và suy ngẫm | Trước tiên, ngay khi nhìn vào chữ |
| Ví dụ ở bài Bánh trôi nước | Thân phận chìm nổi và tấm lòng son của người phụ nữ | Thất ngôn tứ tuyệt, ẩn dụ chiếc bánh trôi |
Hai mặt này không tách rời. Một nội dung buồn thương mà viết bằng nhịp vui nhộn thì người đọc sẽ hiểu sai. Ngược lại, một hình thức cầu kì mà không chở được điều gì thì chỉ là trò chơi chữ. Phần hình thức, khi làm bài, thường được gọi là “nghệ thuật”; muốn viết phần ấy cho trúng có thể xem cách nêu nét nghệ thuật của một bài thơ.
Cũng nên tách nội dung khỏi chủ đề. Chủ đề là một yếu tố nằm trong nội dung, gói gọn được trong một cụm từ. Nội dung rộng hơn, thường phải nói thành câu, có cả sự việc lẫn thái độ tác giả.
Bốn bước nêu nội dung một văn bản
- Gọi tên đối tượng. Văn bản viết về ai, về cảnh gì, về vấn đề gì? Nhan đề và câu mở đầu thường đã gợi ý.
- Tóm điều được kể, được tả. Với truyện, đó là sự việc chính; với thơ, đó là hình ảnh, cảm xúc nổi bật; với văn bản nghị luận, đó là ý kiến chính.
- Tìm thái độ của người viết. Chú ý những từ bộc lộ cảm xúc, những câu bình luận, đoạn kết. Ở đây nằm tư tưởng của tác phẩm.
- Viết thành một hai câu. Khung dễ dùng: “Văn bản [tên] kể/tả/bàn về [đối tượng], qua đó thể hiện [tư tưởng, tình cảm].”
Dấu hiệu một câu nêu nội dung còn thiếu: chỉ có vế “kể về” mà không có vế “qua đó”. Câu “Bài thơ tả mùa thu” mới là đề tài; thêm “qua đó cho thấy tình yêu thiên nhiên tinh tế của nhà thơ” mới thành nội dung.
Nội dung của Bánh trôi nước, Lão Hạc và Sang thu
Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Đọc lớp nghĩa thứ nhất, bài thơ tả chiếc bánh trôi: trắng, tròn, luộc thì lúc chìm lúc nổi, nhân đỏ bên trong. Lớp nghĩa thứ hai mới là nội dung chính: vẻ đẹp và thân phận bấp bênh của người phụ nữ trong xã hội cũ, cùng tấm lòng thủy chung không đổi. Câu trả lời đủ ý vì vậy phải có cả hai lớp. Xem thêm bố cục và giá trị bài Bánh trôi nước.
Lão Hạc của Nam Cao
Phần sự việc: một ông lão nghèo, vợ mất, con trai bỏ đi đồn điền cao su, phải bán con chó Vàng rồi tự tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con. Phần tư tưởng: số phận khốn khổ của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám, vẻ đẹp của lòng tự trọng và tình cha, cùng cái nhìn thương cảm của nhà văn. Học sinh hay dừng ở phần sự việc nên mất điểm. Nhân vật được phân tích kĩ trong bài tấm lòng người cha của lão Hạc.
Sang thu của Hữu Thỉnh
Bài thơ ghi lại khoảnh khắc chuyển từ hạ sang thu ở một vùng quê qua những dấu hiệu rất nhỏ: hương ổi, làn sương, dòng sông, đám mây, tiếng sấm. Nội dung không dừng ở cảnh: khổ cuối mở sang suy ngẫm về con người khi đã từng trải. Nêu nội dung bài này mà bỏ khổ cuối là thiếu một nửa.
Thử nêu nội dung: bốn câu có đáp án
Câu 1: Câu “Truyện Lão Hạc kể về một ông lão bán chó” đã nêu đủ nội dung chưa?
Đáp án: Chưa. Câu này mới tóm một sự việc. Cần thêm phần tư tưởng, ví dụ: “…qua đó cho thấy số phận đáng thương và phẩm chất trong sạch của người nông dân, cùng tấm lòng nhân đạo của Nam Cao.”
Câu 2: Trong các yếu tố sau, đâu là nội dung, đâu là hình thức: thể thơ lục bát, tình yêu quê hương, phép điệp ngữ, nỗi nhớ mẹ, kết cấu vòng tròn?
Đáp án: Nội dung: tình yêu quê hương, nỗi nhớ mẹ. Hình thức: thể thơ lục bát, phép điệp ngữ, kết cấu vòng tròn.
Câu 3: Từ “nội dung” trong câu “Đội tuyển giành hai huy chương ở nội dung bơi tự do” mang nghĩa gì?
Đáp án: Ở đây nội dung là một hạng mục thi đấu trong môn thể thao, không liên quan đến nghĩa “mặt bên trong của sự vật”.
Câu 4: Viết một câu nêu nội dung của truyện ngụ ngôn Thỏ và Rùa.
Đáp án tham khảo: “Truyện kể về cuộc chạy thi giữa thỏ nhanh nhẹn nhưng chủ quan và rùa chậm chạp nhưng bền bỉ, qua đó nhắc người đọc rằng kiên trì sẽ thắng sự kiêu ngạo.” Câu có đủ đối tượng, sự việc và bài học rút ra.
Nội dung chính, nội dung bài học và nội dung số
Nội dung chính là gì?
Nội dung chính là phần cốt lõi nhất của văn bản, rút gọn thành một hai câu. Nó cần cho biết văn bản nói về điều gì và qua đó muốn gửi gắm điều gì, không kể lại chi tiết.
Nội dung và nghệ thuật khác nhau thế nào?
Nội dung là điều tác phẩm nói; nghệ thuật là cách tác phẩm nói ra điều đó, gồm thể loại, ngôn từ, hình ảnh, biện pháp tu từ. Bài phân tích tốt luôn chỉ ra nghệ thuật giúp làm nổi bật nội dung ra sao.
Nội dung tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh dùng content hoặc contents. Mục lục ở đầu sách thường ghi Contents; còn người làm video, viết bài trên mạng được gọi là content creator, tức người sáng tạo nội dung.
Nội dung số là gì?
Là nội dung được tạo ra và phát hành ở dạng kĩ thuật số: bài viết trên mạng, video, ảnh, podcast, sách điện tử. Cụm từ này dùng nhiều trong báo chí, truyền thông, không phải thuật ngữ của giờ Ngữ văn.