Phụng phịu là vẻ mặt xịu xuống, môi dẩu ra vì hờn dỗi hay không vừa ý, hay gặp nhất ở trẻ con. Từ này tả nét mặt hơn là lời nói: một đứa bé đang phụng phịu có khi chẳng nói câu nào, nhưng ai nhìn cũng biết nó đang dỗi. Người lớn làm nũng đôi khi cũng phụng phịu.
| Nghĩa ngắn | Mặt xị xuống, tỏ ý hờn dỗi, không bằng lòng |
| Loại từ | Từ gợi tả, từ điển xếp vào động từ; dùng được như tính từ (mặt phụng phịu) |
| Cấu tạo | Từ láy âm đầu ph-; có dạng rút gọn là phịu |
| Sắc thái | Nhẹ, thường dễ thương hoặc trách yêu; không dùng cho cơn giận lớn |

Phụng phịu là nét mặt ra sao?
Thử hình dung đứa em năm tuổi bị tắt ti vi giữa chừng phim hoạt hình. Nó không gào, không ném đồ; nó chỉ cúi gằm, môi trễ xuống, hai má như phồng lên, mắt liếc ngang chờ người lớn dỗ. Cái mặt ấy là mặt phụng phịu.
Từ điển tiếng Việt giảng từ này là vẻ mặt xị xuống để tỏ ra dỗi, không bằng lòng, và ghi chú thường dùng cho trẻ con. Từ đồng nghĩa ngắn nhất là phịu (mặt phịu) và xị (xị mặt). Ba điểm làm nên nghĩa của từ:
- Nằm ở nét mặt. Phụng phịu là thứ nhìn thấy được: môi, má, ánh mắt. Có thể kèm lời nói, nhưng lời nói thường ngắn và giọng kéo dài: “Con không ăn đâu.”
- Xuất phát từ dỗi. Người phụng phịu thấy mình bị thiệt, bị từ chối hay chưa được chiều đúng ý.
- Có chút chờ đợi. Phụng phịu là để người khác nhìn thấy và dỗ dành, nên nó khác với buồn thật, giận thật.
Về ngữ pháp, từ này đứng được ở nhiều chỗ: mặt phụng phịu, phụng phịu bảo, phụng phịu không chịu ăn, ngồi phụng phịu một góc. Hai âm tiết cùng bắt đầu bằng “ph”, nên đây là một từ láy âm đầu quen thuộc khi làm bài tập phân loại các dạng từ láy trong tiếng Việt.
Phụng phịu, dỗi, nũng nịu, bĩu môi: bốn sắc độ
| Từ | Điểm nhấn | Ví dụ |
|---|---|---|
| Phụng phịu | Vẻ mặt xịu xuống vì dỗi; nhìn thấy được | Bé phụng phịu vì không được mua kem |
| Dỗi, hờn dỗi | Trạng thái trong lòng: tỏ ra giận để người khác chú ý | Dỗi cả buổi không thèm nói chuyện |
| Nũng nịu | Làm điệu bộ, giọng nói để được cưng chiều; không nhất thiết đang dỗi | Nũng nịu đòi mẹ bế |
| Bĩu môi | Một động tác riêng của môi; có thể là dỗi, có thể là chê | Bĩu môi chê món canh nhạt |
Cả bốn từ hay đi cùng nhau: một đứa trẻ có thể vừa dỗi trong lòng, vừa phụng phịu ra mặt, rồi bĩu môi khi nghe lời dỗ chưa vừa ý. Nũng nịu thì mềm hơn, nhiều khi là cố ý làm duyên; xem thêm bài nũng nịu và làm nũng khác nhau ra sao. Riêng động tác của môi được tả kĩ trong bài cái trề môi lúc chê bai hay hờn dỗi.
Trái nghĩa với phụng phịu là những từ chỉ nét mặt vui: tươi tỉnh, hớn hở, tươi cười, rạng rỡ. Câu ví dụ hay đặt cả hai đầu cạnh nhau: Vừa nghe được đi chơi, cái mặt phụng phịu đã hóa hớn hở.
Tả một gương mặt phụng phịu trong bài văn
Ở bài văn tả người, nhất là tả em bé, từ này giúp câu văn sống hẳn lên, vì nó chứa sẵn cả một cảnh. Vài câu tự đặt để tham khảo:
- Bé Na ôm con gấu bông, phụng phịu quay mặt vào tường vì bị chị trêu.
- Thằng cu phụng phịu đứng ở cửa lớp, cặp sách lệch một bên vai, không chịu chào mẹ.
- Nhắn mãi không thấy trả lời, cô bạn gửi lại một cái mặt phụng phịu kèm ba dấu chấm.
- Bà nội cười: “Cái môi dẩu ra thế kia, treo được cả cái nón.” Một câu nói kiểu này của người lớn tả lại phụng phịu mà không cần gọi tên.
Mẹo viết: đừng chỉ ghi “em phụng phịu”; thêm một hai nét cụ thể như đôi môi, ánh mắt, cái quay lưng, rồi cho thấy điều gì làm em hết dỗi. Một lưu ý dùng từ: khi tả người lớn đang giận thật, buồn thật, chữ phụng phịu sẽ khiến câu văn thành buồn cười, vì nó gắn với dáng vẻ con trẻ. Viết “ông phụng phịu khi nghe tin dữ” là chọn sai từ; ở đó cần sầm mặt hay lặng đi.
Phụng phịu ở bàn ăn, trong tin nhắn và trong tiếng Anh
Phụng phịu nghĩa là gì khi nói về người lớn?
Vẫn là tỏ vẻ dỗi ra mặt, nhưng thường mang ý làm nũng hoặc trêu đùa, như người yêu phụng phịu vì bị lỡ hẹn. Dùng cho người lớn, từ này nghe nhẹ nhàng, gần với trách yêu hơn là trách thật.
Phụng phịu tiếng Anh là gì?
Gần nhất là pout (dẩu môi ra vì không vừa ý) và sulk (dỗi, im lặng tỏ ý không vui). “Mặt phụng phịu” có thể dịch là a pouty face.
Phụng phịu có phải từ láy không?
Có. Hai tiếng phụng và phịu lặp lại phụ âm đầu “ph”, nên được xếp vào từ láy âm đầu. Tiếng “phịu” đứng riêng vẫn có nghĩa, như trong “mặt phịu”.
Mặt phụng phịu khác mặt cau có thế nào?
Cau có là nhíu mày, nét mặt khó chịu, có khi bực bội thật với người xung quanh. Phụng phịu thì mềm hơn, có ý chờ được dỗ, nên ít khi làm người đối diện thấy bị gây gổ.