Phong tục tập quán là các thói quen, lệ làm đã có từ lâu đời trong một cộng đồng, được mọi người thừa nhận và làm theo, như ăn Tết, cưới hỏi, giỗ chạp, chào hỏi người lớn. Hỏi phong tục là gì hay tập quán là gì thì hai đáp án rất gần nhau; ghép chung thành một cụm, người Việt dùng để gọi cả cái nếp sống chung của một làng, một vùng, một dân tộc.
| Nghĩa | Thói quen, lệ làm có từ lâu đời, được cộng đồng thừa nhận và làm theo |
| Gốc từ | Hán Việt: phong tục 風俗 + tập quán 習慣 |
| Loại từ | Danh từ ghép, thường đi thành cụm bốn chữ |
| Ví dụ | Tục cúng ông Công ông Táo, lễ dạm ngõ, mừng tuổi đầu năm, mời trầu |
| Vùng miền | Mỗi vùng, mỗi dân tộc một khác; cùng một lễ mà cách làm có khi lệch nhau |

Phong tục tập quán: chữ gió và chữ nếp
Chữ phong (風) nghĩa gốc là gió. Người xưa ví cái nếp sống lan trong dân gian như gió thổi qua: không ai ra lệnh mà cả vùng cùng nghiêng theo. Chữ tục (俗) là thói thường của người đời, cũng là chữ trong thế tục, dân tục. Ghép lại, phong tục chỉ những thói quen có từ lâu, đã ăn vào đời sống của một vùng, một nước.
Vế sau thì nghiêng về sự lặp lại. Tập (習) là tập, làm đi làm lại; quán (慣) là quen. Tập quán là cái đã quen tay, quen nếp vì làm mãi thành lệ. Từ điển của Viện Ngôn ngữ học giảng tập quán là thói quen hình thành từ lâu, đã thành nếp sống chung của cả một cộng đồng, được mọi người công nhận và làm theo. Định nghĩa phong tục trong cùng cuốn từ điển gần như song song, chỉ nhấn thêm ý “ăn sâu vào đời sống xã hội”.
Vì nghĩa sát nhau như thế, người Việt ít khi tách hai từ. Nói “giữ gìn phong tục tập quán” là nói gộp, không cần phân định chữ nào ứng với lễ nào.
Phong tục, tập quán, tục lệ, hủ tục khác nhau thế nào?
| Từ | Trọng tâm nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Phong tục | Nếp sống lâu đời mang dấu ấn văn hóa của cả cộng đồng, thường gắn với lễ, Tết, cưới, tang | Tục gói bánh chưng ngày Tết |
| Tập quán | Cách làm quen thuộc lặp lại lâu ngày, kể cả trong sản xuất, buôn bán | Tập quán trồng lúa nước, họp chợ phiên |
| Tục lệ | Điều quy định có từ lâu, đã thành lệ, nghe chặt chẽ hơn hai từ trên | Cưới xin theo tục lệ của làng |
| Hủ tục | Phong tục đã lạc hậu, lỗi thời, có khi gây hại | Thách cưới quá nặng, ăn uống linh đình kéo dài nhiều ngày |
Ranh giới giữa các từ không cứng. Một lệ hôm qua còn được coi là đẹp, mai kia có thể bị gọi là hủ tục khi nó làm khổ người trong cuộc. Ngược lại, một tập quán làm ăn bình thường như đi chợ phiên vùng cao lâu dần trở thành nét văn hóa người ta muốn giữ.
Trong luật dân sự, chữ tập quán có định nghĩa riêng. Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 5) coi tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng, hình thành và lặp lại nhiều lần trong thời gian dài, được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, dân tộc hoặc cộng đồng; tập quán chỉ được áp dụng khi các bên không thỏa thuận và pháp luật không quy định.
Vì sao một thói quen thành lệ của cả làng?
Phần lớn phong tục bắt đầu từ chuyện rất thực tế. Cư dân trồng lúa nước sống theo mùa vụ, nên lễ Tết bám theo lịch nông nghiệp: cúng cơm mới sau gặt, xuống đồng đầu năm, cầu mưa khi hạn. Người sống quần cư trong làng cần cách để giữ hòa khí, nên có lệ mời trầu, lệ biếu quà khi đến chơi, lệ thăm hỏi khi nhà bên có việc.
Một phần khác đến từ tín ngưỡng: thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng, kiêng kỵ ngày giờ. Những lệ này truyền qua lời dặn của ông bà, qua việc trẻ con đứng xem người lớn làm. Không ai ghi thành điều khoản, nhưng làng nào cũng biết việc gì nên, việc gì không.
Vì sinh ra từ đời sống, phong tục cũng đổi theo đời sống. Lễ ăn hỏi xưa kéo dài cả ngày, nay gọn trong một buổi sáng; mâm cỗ Tết ở thành phố khác hẳn mâm cỗ ở quê. Cái giữ lại thường là ý nghĩa, còn cách làm thì mỗi thế hệ tự gọt cho vừa.
Những nhóm phong tục quen thuộc của người Việt
Có thể chia phong tục tập quán của người Việt thành vài nhóm lớn để dễ hình dung:
- Phong tục vòng đời: đầy tháng, thôi nôi, cưới hỏi, mừng thọ, tang lễ, giỗ. Ví dụ quen nhất là trình tự cưới với lễ dạm ngõ khi hai nhà mới gặp nhau, rồi ăn hỏi, rồi đón dâu.
- Phong tục lễ Tết, theo mùa: Tết cổ truyền với tục xông đất, mừng tuổi, khai bút; rằm tháng Giêng; Tết Đoan ngọ; Trung thu. Bài về những tục lệ quanh dịp đầu năm âm lịch kể kĩ hơn.
- Tập quán sinh hoạt, giao tiếp: mời trầu, chào người lớn trước, ăn cơm mời cả nhà, con cháu đứng khi ông bà vào.
- Tập quán sản xuất, buôn bán: họp chợ theo phiên, lệ đổi công trong mùa gặt, nghề truyền trong dòng họ.
Giữa các vùng, cùng một tục mà cách làm khác nhau. Mâm ngũ quả ngày Tết miền Bắc thường có nải chuối xanh, miền Nam lại chuộng mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài. Nhiều dân tộc thiểu số giữ lịch Tết và nghi lễ riêng, không trùng với người Kinh.
Nhiều phong tục được cả làng giữ trong những ngày hội; phần lễ, phần hội và ý nghĩa của lễ hội truyền thống được giải thích riêng.
Gần với phong tục là cụm truyền thống quê hương, những nếp tốt một vùng đất giữ qua nhiều đời như nghề thủ công, lễ hội, tinh thần hiếu học.
Đất có lề, quê có thói
Ông bà ta gói ý về phong tục vào câu tục ngữ Đất có lề, quê có thói: nơi nào cũng có nếp riêng, đến đâu phải biết nếp ấy. Cùng ý có câu Nhập gia tùy tục, vào nhà ai thì theo lệ nhà ấy. Còn câu Phép vua thua lệ làng cho thấy lệ làng từng có sức nặng đến mức nào trong đời sống nông thôn xưa. Nghĩa từng chữ và vế đi kèm nhập giang tùy khúc được giảng riêng ở bài nhập gia tùy tục là gì.
Phong tục cũng là một mảng lớn của chữ văn hóa theo nghĩa rộng nhất. Học sinh hay gặp cụm này trong đề nghị luận về giữ gìn bản sắc; khi viết, nên nêu một tục cụ thể (gói bánh chưng, mừng thọ ông bà) thay vì nói chung chung “giữ gìn phong tục tập quán tốt đẹp”. Một ví dụ có hình, có người, có mùi lá dong luộc trong nồi, đáng giá hơn ba câu khẩu hiệu.
Phong tục ở mỗi vùng, mỗi nhà và trên giấy tờ
Phong tục là gì, có khác tập quán không?
Phong tục là nếp sống lâu đời của một cộng đồng, thường gắn với lễ nghi. Tập quán nghiêng về thói quen làm đi làm lại cho thành nếp, gồm cả chuyện làm ăn. Trong lời nói hằng ngày, hai từ thường đi chung và gần như thay được cho nhau.
Ví dụ về phong tục tập quán của người Việt là gì?
Có thể kể: thờ cúng tổ tiên, gói bánh chưng ngày Tết, mừng tuổi đầu năm, lễ dạm ngõ và ăn hỏi trước khi cưới, cúng giỗ, mời trầu khi có khách, họp chợ phiên ở vùng cao.
Hủ tục là gì?
Là phong tục đã lạc hậu, không còn hợp với đời sống hoặc gây hại cho người theo nó, chẳng hạn thách cưới quá nặng hay ma chay kéo dài gây tốn kém. Bỏ hủ tục không có nghĩa là bỏ phong tục, chỉ là gạn đi phần đã lỗi thời.
Thuần phong mỹ tục có phải là phong tục tập quán không?
Thuần phong mỹ tục là phần phong tục tốt đẹp, được xã hội coi trọng. Nói cách khác, mọi thuần phong mỹ tục đều là phong tục tập quán, nhưng không phải phong tục nào cũng được xếp vào đây.