Lễ hội là dịp sinh hoạt văn hóa của cả một cộng đồng, thường gồm hai phần: phần lễ để tưởng nhớ, tạ ơn thần linh, tổ tiên hay người có công, và phần hội để mọi người cùng vui chơi, thi tài, gặp gỡ. Riêng lễ hội truyền thống là những lễ hội tổ chức theo nghi thức cũ của làng, của vùng, như hội Gióng hay Giỗ Tổ Hùng Vương.
| Nghĩa | Cuộc vui chung của cộng đồng, có nghi lễ truyền thống đi kèm |
| Gốc từ | Hán Việt: lễ (禮) là nghi thức tôn kính; hội (會) là họp lại, tụ lại |
| Thời điểm | Nhiều nhất vào mùa xuân, sau Tết; một phần vào mùa thu |
| Hai phần chính | Phần lễ (tế, rước, dâng hương) và phần hội (trò chơi, hát, thi tài) |
| Vùng miền | Có ở khắp nơi; đồng bằng Bắc Bộ là vùng dày lễ hội làng |

Lễ hội ghép từ hai chữ nào?
Chữ lễ chỉ những nghi thức bày tỏ lòng tôn kính: thắp hương, dâng lễ vật, đọc văn tế. Chữ hội nghĩa gốc là họp lại, nhiều người tụ về một chỗ, như trong hội họp, tụ hội. Ghép lại, lễ hội là cuộc tụ họp đông người có nghi lễ làm nòng cốt.
Wiktionary tiếng Việt xếp lễ hội là danh từ, chỉ dịp nhiều người tập trung ở một nơi để vui chơi. Cách giảng ấy nghiêng về phần hội. Còn trong đời sống, người làng hiểu đủ cả hai: không có lễ thì chỉ là một buổi tụ tập, không có hội thì chỉ là một buổi cúng. Người ta vẫn nói gọn “đi hội”, “mở hội”, nhưng ai cũng biết trước giờ vui là giờ rước, giờ tế.
Lễ hội, festival và ngày lễ có giống nhau không?
Ba chữ này thường bị dùng lẫn. Nghị định 110/2018/NĐ-CP về quản lý và tổ chức lễ hội chia lễ hội thành bốn loại, giúp phân biệt khá rõ.
| Loại | Đặc điểm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lễ hội truyền thống | Sinh hoạt văn hóa cộng đồng theo nghi lễ truyền thống, gồm lễ hội dân gian và lễ hội ở di tích | Hội Gióng, hội Lim, Giỗ Tổ Hùng Vương |
| Lễ hội văn hóa (festival) | Quảng bá giá trị văn hóa, thể thao, du lịch; thường do cơ quan, địa phương tổ chức | Festival Huế, lễ hội pháo hoa |
| Lễ hội ngành nghề | Tôn vinh một nghề và người làm nghề | Lễ hội cà phê, lễ hội hoa |
| Lễ hội có nguồn gốc nước ngoài | Giới thiệu văn hóa nước khác tới công chúng Việt Nam | Các tuần lễ văn hóa nước ngoài |
Ngày lễ thì khác hẳn: đó là ngày kỉ niệm được nghỉ hoặc được ghi nhận chính thức, như Quốc khánh 2/9, không nhất thiết có phần hội. Tết cũng không phải một lễ hội theo nghĩa hẹp mà là cả một mùa, xem thêm chữ Tết và những cái tết trong năm.
Ở nước ngoài cũng có những lễ hội lớn gắn với tín ngưỡng và mùa vụ, như Diwali, lễ hội ánh sáng của người Ấn Độ với năm ngày thắp đèn.
Vì sao làng nào cũng có ngày hội?
Phần lớn lễ hội truyền thống người Việt sinh ra từ làng nông nghiệp. Mỗi làng thờ một vị thần, có khi là thần núi, thần sông, có khi là người có công lập làng, đánh giặc. Ngày giỗ hoặc ngày sinh của vị thần ấy trở thành ngày hội. Người ta cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, rồi cảm tạ khi được mùa.
Vì thế mùa lễ hội trùng với lúc nhà nông rảnh tay: mùa xuân sau Tết, trước vụ cấy, và mùa thu sau gặt. Lễ hội là lúc cả làng gác việc đồng áng, mặc đẹp, ra sân đình. Nó giữ cho cộng đồng gắn kết, nhắc lớp sau nhớ về tổ tiên, về những giá trị văn hóa cả làng cùng giữ.
Có những lễ hội đã vượt khỏi phạm vi một làng. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (Hà Nội), tưởng nhớ Thánh Gióng, được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2010.
Phần lễ và phần hội diễn ra thế nào?
Phần lễ: trang nghiêm, theo nghi thức cũ
Thường mở đầu bằng lễ rước: kiệu, cờ, trống, bát âm đưa thần từ đền về đình hoặc ngược lại. Sau đó là tế, dâng hương, đọc văn tế, có những bậc cao niên mặc áo thụng đứng tế. Lễ vật tùy nơi: xôi, gà, rượu, bánh, hoa quả, có làng còn có lễ vật riêng gắn với tích của vị thần.
Phần hội: vui, đông và có thi tài
Phần hội là trò chơi dân gian và văn nghệ: đấu vật, kéo co, đánh đu, chọi gà, đua thuyền, hát quan họ, hát chèo. Nhiều dân tộc miền núi có trò tung còn mùa xuân, như trò ném còn qua vòng trên ngọn tre. Đây là phần trai gái làng gặp nhau, người đi xa về thăm quê.
Mỗi vùng một nét riêng
Đồng bằng Bắc Bộ dày đặc hội làng quanh sân đình, chùa. Vùng biển miền Trung có lễ cầu ngư mong mùa cá. Nam Bộ có lễ Kỳ yên ở đình làng, cầu bình an cho cả xóm. Tên gọi, ngày giờ, lễ vật mỗi nơi một khác, không có một khuôn chung cho cả nước.
Lễ hội trong ca dao và sách giáo khoa
Ca dao về lễ hội thường không tả chi tiết mà nhắc người ta nhớ ngày hội. Câu quen thuộc nhất là lời nhắc về Giỗ Tổ ngày mồng mười tháng ba âm lịch ở đền Hùng:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba.
Câu này có vài dị bản ở hai câu tiếp theo, còn hai dòng đầu thì các bản đều giống. Học sinh lớp 10 bộ Cánh diều đọc văn bản thông tin về chính lễ hội này, xem phần soạn văn bản Lễ hội Đền Hùng. Ở tiểu học, sách Tiếng Việt 5 Chân trời sáng tạo có hẳn một bài đọc gồm những câu ca dao nói về ngày hội.
Đọc kĩ, sẽ thấy ca dao gọi ngày hội bằng tên làng, tên đền, tên tháng chứ ít khi dùng nguyên chữ “lễ hội”. Với người xưa, nói “hội Gióng”, “hội Lim” là đủ để cả vùng biết ngày nào phải về.
Đi hội cho đúng và hiểu cho đủ
Lễ hội truyền thống là gì?
Là lễ hội tổ chức theo nghi lễ đã có từ lâu đời của một cộng đồng, gồm lễ hội dân gian ở làng và lễ hội tại di tích lịch sử, văn hóa. Nó khác các festival mới do cơ quan, doanh nghiệp đứng ra tổ chức.
Lễ hội tiếng Anh là gì?
Thường dịch là festival. Khi muốn nhấn vào phần nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng, có thể dùng religious festival hoặc ceremony cho riêng phần lễ.
Lễ hội có phải là phong tục không?
Lễ hội là một dạng phong tục được cả cộng đồng thực hành định kì. Phong tục rộng hơn, gồm cả những việc trong từng gia đình như cưới hỏi, ma chay, thờ cúng tổ tiên.
Halloween có được gọi là lễ hội không?
Có, nhưng là lễ hội có nguồn gốc nước ngoài, không phải lễ hội truyền thống của Việt Nam. Xem chuyện ngày 31/10 hóa trang và bí ngô để biết nó bắt đầu từ đâu.