Phân tích nhân vật Thạch Sanh là đề văn quen thuộc khi học truyện cổ tích Thạch Sanh ở sách Ngữ văn 6 Cánh diều (Bài 1) và Ngữ văn 6 Kết nối tri thức (Bài 7). Thạch Sanh là hình mẫu người dũng sĩ trong cổ tích Việt Nam: xuất thân nghèo khổ, thật thà, dũng cảm, nhân hậu và yêu hòa bình.
Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 6 bài văn mẫu với độ dài, góc nhìn khác nhau: bài ngắn gọn, bài đầy đủ, bài của học sinh giỏi, bài tập trung vào tiếng đàn – niêu cơm, bài so sánh với Lý Thông và bài cảm nhận. Lưu ý: bản kể sách Kết nối tri thức gọi con quái vật ở miếu là “trăn tinh”, bản Cánh diều gọi là “chằn tinh”; các bài dưới đây dùng “chằn tinh”, em đổi lại theo sách mình học.
Sau khi học xong văn bản, em có thể tự kiểm tra mức độ nắm bài bằng đề tham khảo có đáp án trong bài ôn tập học kì II Ngữ văn 6 Kết nối tri thức.
Dàn ý phân tích nhân vật Thạch Sanh
Dàn ý dưới đây dùng được cho cả bài dài và bài ngắn; với bài ngắn, em chỉ cần chọn mỗi luận điểm một hai dẫn chứng tiêu biểu.

1. Mở bài
– Giới thiệu truyện cổ tích Thạch Sanh – truyện tiêu biểu về kiểu nhân vật dũng sĩ.
– Nêu nhận xét khái quát: Thạch Sanh là người anh hùng vừa gần gũi vừa phi thường, hội tụ những phẩm chất đẹp nhất mà nhân dân mơ ước.
2. Thân bài
a. Xuất thân vừa bình thường vừa khác thường
+ Bình thường: mồ côi, nghèo, sống trong túp lều dưới gốc đa, gia tài chỉ có lưỡi búa, làm nghề đốn củi.
+ Khác thường (bản Cánh diều): thái tử con Ngọc Hoàng đầu thai, mẹ mang thai nhiều năm, được thiên thần dạy võ nghệ và phép thần thông.
⇒ Người anh hùng sinh ra từ nhân dân lao động; nhân dân tin rằng người nghèo khổ cũng có thể là người tài giỏi, cao quý.
b. Thật thà, chất phác, cả tin
+ Cảm động nhận lời kết nghĩa với Lý Thông vì “tứ cố vô thân”.
+ Hai lần tin ngay lời Lý Thông: đi canh miếu thay, rồi bỏ trốn vì sợ mang tội giết con vật của vua.
+ Kể thật mọi chuyện, dẫn Lý Thông tới hang đại bàng.
⇒ Tấm lòng trong sáng, không biết nghi ngờ; cũng là lời nhắc về sự cảnh giác trước kẻ gian.
c. Dũng cảm, tài năng phi thường
+ Một mình giết chằn tinh bằng lưỡi búa, được bộ cung tên vàng.
+ Bắn trúng đại bàng, lần theo vết máu tìm ra hang, xin xuống hang, bắn mù mắt, chặt vuốt, bổ đầu chim dữ.
+ Phá cũi sắt cứu thái tử con vua Thủy Tề.
⇒ Người dũng sĩ diệt trừ cái ác, cứu người bị hại, không màng nguy hiểm.
d. Nhân hậu, vị tha, không màng danh lợi
+ Không nhận vàng bạc của vua Thủy Tề, chỉ xin một cây đàn.
+ Được vua giao xử tội mẹ con Lý Thông, chàng tha cho về quê làm ăn.
+ Kẻ ác vẫn bị trừng phạt (sét đánh) – công lí do “trời” thực thi.
⇒ Lòng khoan dung lớn; quan niệm “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”.
e. Yêu chuộng hòa bình
+ Xin vua không động binh, một mình ôm đàn ra trước quân mười tám nước.
+ Tiếng đàn làm quân giặc bủn rủn; niêu cơm thần mời cả mấy vạn quân ăn mãi không hết.
⇒ Cách đánh giặc bằng lòng nhân ái, thể hiện tư tưởng nhân đạo, yêu hòa bình của dân tộc.
f. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
+ Đặt nhân vật qua chuỗi thử thách tăng dần.
+ Đối lập với Lý Thông qua hành động.
+ Kết hợp chi tiết thần kì: cung tên vàng, đàn thần, niêu cơm thần.
+ Kết thúc có hậu: cưới công chúa, lên ngôi vua.
3. Kết bài
– Khẳng định Thạch Sanh là hình tượng đẹp, tiêu biểu cho người dũng sĩ trong cổ tích.
– Liên hệ: bài học về lòng tốt, sự dũng cảm, lòng vị tha; niềm tin vào công lí.
Phân tích nhân vật Thạch Sanh ngắn gọn – mẫu 1
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Thạch Sanh là một trong những người dũng sĩ được yêu mến nhất. Chàng là hình ảnh kết tinh những phẩm chất tốt đẹp mà nhân dân lao động hằng mơ ước: thật thà, dũng cảm, tài giỏi, nhân hậu và yêu hòa bình.
Thạch Sanh xuất thân nghèo khổ. Chàng mồ côi cha mẹ, sống lủi thủi trong túp lều dưới gốc đa, cả gia tài chỉ có một lưỡi búa để đốn củi. Hoàn cảnh ấy khiến chàng gần gũi với biết bao người lao động nghèo. Cũng vì tấm lòng chất phác, chàng dễ dàng nhận lời kết nghĩa với Lý Thông, rồi hết lần này đến lần khác tin lời hắn: đi canh miếu thay, lặng lẽ bỏ trốn để Lý Thông nhận công diệt chằn tinh, rồi lại dẫn hắn đến hang đại bàng.
Nhưng chính con người thật thà ấy lại có sức mạnh và lòng dũng cảm phi thường. Chàng giết chằn tinh bằng lưỡi búa, bắn trúng đại bàng đang quắp công chúa, xuống tận đáy hang sâu để diệt chim dữ, phá cũi sắt cứu thái tử con vua Thủy Tề. Mỗi chiến công là một lần chàng đem sức mình ra bảo vệ người khác mà không đòi hỏi đền đáp.
Thạch Sanh còn có tấm lòng bao dung hiếm có. Vua Thủy Tề tặng vàng bạc, chàng chỉ xin một cây đàn. Khi được giao xử tội mẹ con Lý Thông – kẻ đã nhiều lần đẩy mình vào chỗ chết – chàng vẫn tha cho họ về quê. Và khi quân mười tám nước chư hầu kéo đến, chàng không cầm vũ khí mà cầm cây đàn, rồi mời họ ăn niêu cơm cứ ăn hết lại đầy. Kẻ thù phải lạy tạ ra về.
Với chuỗi thử thách nối tiếp, các chi tiết thần kì và kết thúc có hậu, truyện đã khắc họa Thạch Sanh như một người anh hùng hoàn mĩ. Nhân vật ấy gửi gắm niềm tin “ở hiền gặp lành” và khát vọng hòa bình của nhân dân ta, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa.
Phân tích nhân vật Thạch Sanh đầy đủ – mẫu 2
Nếu truyện cổ tích là nơi nhân dân gửi gắm ước mơ về một thế giới công bằng, thì Thạch Sanh chính là một trong những giấc mơ đẹp nhất. Qua cuộc đời chàng tiều phu nghèo trở thành vị vua được muôn nước kính phục, tác giả dân gian đã xây dựng hình tượng người dũng sĩ vẹn toàn cả tài lẫn đức.
Trước hết, Thạch Sanh có một xuất thân vừa bình thường vừa khác thường. Chàng mồ côi, sống trong túp lều cũ dưới gốc đa, ngày ngày đốn củi kiếm ăn – một cuộc sống không khác gì bao người nghèo khổ trong xã hội xưa. Ở bản kể của sách Cánh diều, chàng còn là thái tử được Ngọc Hoàng cho đầu thai, được thiên thần dạy võ nghệ. Sự kết hợp ấy cho thấy nhân dân muốn người anh hùng của mình vừa gần gũi, là “người của ta”, vừa có sức mạnh khác thường để làm nên việc lớn.
Tính cách đầu tiên dễ thấy ở Thạch Sanh là sự thật thà, chất phác. Vì mồ côi, không nơi nương tựa, nay có người quan tâm, chàng cảm động nhận lời kết nghĩa với Lý Thông. Khi Lý Thông viện cớ dở cất mẻ rượu để nhờ đi canh miếu, chàng nhận lời đi ngay. Khi hắn dọa rằng con quái vật là của vua nuôi, chàng lại tin ngay và bỏ trốn. Sự cả tin ấy có phần đáng trách, nhưng trước hết nó phản ánh một tâm hồn trong trẻo, không bao giờ nghĩ xấu về người khác.
Bên cạnh đó, Thạch Sanh là người dũng cảm và tài năng. Nửa đêm, một mình trong miếu hoang, chàng không run sợ trước con chằn tinh hung dữ mà giáng búa giết chết nó. Thấy đại bàng quắp người, chàng bắn trúng cánh chim, lần theo vết máu đến tận hang ổ. Chàng tự xin xuống hang sâu, bắn mù mắt, chặt vuốt rồi bổ đôi đầu đại bàng, sau đó còn phá cũi sắt cứu thái tử con vua Thủy Tề. Ở mỗi thử thách, Thạch Sanh đều hành động vì người khác: vì dân làng, vì công chúa, vì một người xa lạ bị giam cầm.
Điều làm nên vẻ đẹp đặc biệt của Thạch Sanh là lòng nhân hậu và vị tha. Đến thủy cung, chàng từ chối vàng bạc, chỉ xin một cây đàn. Bị Lý Thông lấp cửa hang, bị vu oan vào ngục, chàng không oán hận mà chỉ gửi nỗi niềm vào tiếng đàn. Khi sự thật được phơi bày và vua giao quyền xét xử, chàng tha cho mẹ con Lý Thông về quê làm ăn. Thạch Sanh không trả thù; việc trừng phạt kẻ ác được nhân dân giao cho “trời” qua tiếng sét giữa đường.
Cuối cùng, Thạch Sanh là người yêu chuộng hòa bình. Trước quân mười tám nước chư hầu, chàng xin vua đừng động binh, một mình ôm đàn ra trận. Tiếng đàn làm quân giặc bủn rủn tay chân; niêu cơm nhỏ xíu mà mấy vạn người ăn mãi không hết khiến họ phục tùng, lạy tạ ra về. Đó là chiến thắng không đổ máu – chiến thắng của lòng nhân ái.
Để xây dựng nhân vật, tác giả dân gian đặt Thạch Sanh vào chuỗi thử thách ngày càng gay gắt, dùng hành động để bộc lộ tính cách, đặt chàng bên cạnh Lý Thông để làm nổi bật sự đối lập thiện – ác, và sử dụng các chi tiết thần kì giàu ý nghĩa. Kết thúc chàng cưới công chúa, lên ngôi vua là phần thưởng xứng đáng cho người tốt.
Thạch Sanh là hình tượng người anh hùng tiêu biểu của truyện cổ tích Việt Nam. Qua nhân vật, nhân dân gửi gắm ước mơ về công lí, đạo đức và niềm tin rằng lòng tốt, sự dũng cảm cuối cùng sẽ chiến thắng.
Phân tích nhân vật Thạch Sanh (bài học sinh giỏi) – mẫu 3
Có những nhân vật cổ tích mà đọc xong ta nhớ mãi một chi tiết. Với Thạch Sanh, đó có lẽ là hình ảnh niêu cơm bé xíu cứ ăn hết lại đầy giữa mấy vạn quân lính mười tám nước. Một người dũng sĩ từng giết chằn tinh, diệt đại bàng lại kết thúc hành trình anh hùng của mình không phải bằng một trận đánh mà bằng một bữa cơm. Chi tiết ấy gói trọn con người Thạch Sanh: mạnh mẽ mà hiền hậu, phi thường mà giản dị.
Hành trình của Thạch Sanh bắt đầu từ gốc đa – biểu tượng của làng quê Việt. Chàng mồ côi, nghèo đến mức gia tài chỉ là một lưỡi búa. Tác giả dân gian không để người anh hùng của mình sinh ra trong cung điện; dù ở bản Cánh diều chàng là thái tử của Ngọc Hoàng, thì chàng vẫn phải lớn lên trong túp lều tranh, kiếm sống bằng đôi tay. Nguồn gốc thần thánh cho chàng sức mạnh, còn cuộc sống lao động cho chàng tâm hồn. Đó là cách nhân dân khẳng định: người anh hùng thuộc về họ.
Cuộc đời Thạch Sanh là một chuỗi thử thách, và điều thú vị là mỗi thử thách đều đến từ hai phía: quái vật và con người. Chằn tinh, đại bàng là cái ác hiện hình, dữ tợn, có phép lạ; còn Lý Thông là cái ác đội lốt người anh em. Với quái vật, Thạch Sanh chiến thắng dễ dàng bằng lưỡi búa và cung tên. Nhưng với Lý Thông, chàng lại thua liên tiếp, bởi chàng không hề phòng bị. Hai lần “thật thà” tin lời – đi canh miếu, rồi bỏ trốn – cho thấy một tâm hồn chưa từng biết đến dối trá. Ở đây, sự cả tin không phải là ngây ngô đáng cười, mà là thước đo độ trong sạch của một con người.
Sức mạnh của Thạch Sanh luôn hướng về người khác. Chàng giết chằn tinh vì đêm ấy lẽ ra có một mạng người phải chết. Chàng bắn đại bàng ngay khi thấy nó quắp người bay qua, chẳng cần hỏi người bị nạn là ai. Chàng phá cũi sắt cứu một người lạ trong lòng hang tối – khi chính mình đang bị lấp kín cửa hang, không biết lối ra. Người anh hùng ấy làm việc nghĩa một cách tự nhiên như thở, không toan tính, không kể công.
Vì không kể công nên Thạch Sanh cũng không cần phần thưởng. Vua Thủy Tề đem vàng bạc ra tặng, chàng chỉ xin một cây đàn. Có lẽ lúc ấy chàng chẳng biết đó là cây đàn thần; chàng chỉ cần một thứ để bầu bạn dưới gốc đa. Thế nhưng chính cây đàn ấy lại trở thành tiếng nói của công lí. Trong ngục tối, tiếng đàn kể nỗi oan của chàng, trách sự hờ hững của công chúa và tố cáo Lý Thông vong ân. Người hiền không cần tự bào chữa – sự thật tự cất lên tiếng nói. Tiếng đàn chữa khỏi bệnh câm cho công chúa cũng là tiếng đàn phá tan sự im lặng bao trùm tội ác.
Khi đã đứng ở vị trí có thể trừng phạt kẻ thù, Thạch Sanh chọn tha thứ. Chàng cho mẹ con Lý Thông về quê làm ăn. Sự khoan dung ấy không làm công lí biến mất: giữa đường, kẻ ác vẫn bị sét đánh chết. Nhân dân vừa muốn người anh hùng của mình giữ trọn lòng nhân hậu, vừa muốn cái ác phải đền tội – và họ đã giải quyết bằng một chi tiết kì ảo đầy dụng ý.
Đỉnh cao của vẻ đẹp Thạch Sanh nằm ở cuộc đối đầu với mười tám nước chư hầu. Chàng xin vua không động binh, tự mình ôm đàn ra trước quân giặc. Tiếng đàn khiến quân lính bủn rủn, không còn muốn đánh nhau. Rồi thay vì bắt tù binh, chàng dọn cơm thết đãi. Niêu cơm thần tượng trưng cho tấm lòng rộng mở của người chiến thắng: dù kẻ thù đông đến đâu, lòng nhân ái vẫn đủ đầy cho tất cả. Những kẻ đến gây chiến đã lạy tạ ra về. Đó là cách người Việt xưa mơ về chiến thắng: thắng mà không cần giết, thắng để có hòa bình.
Với nghệ thuật xây dựng nhân vật qua hành động, thử thách tăng dần, sự đối lập sắc nét với Lý Thông cùng những chi tiết thần kì giàu tính biểu tượng, truyện đã tạo nên một người anh hùng hoàn mĩ. Thạch Sanh cho ta tin rằng sự tử tế không bao giờ là thiệt thòi, và sức mạnh đáng quý nhất là sức mạnh dùng để bảo vệ, bao dung và gìn giữ bình yên.
Phân tích tiếng đàn và niêu cơm của Thạch Sanh – mẫu 4
Truyện cổ tích Thạch Sanh có nhiều chi tiết thần kì, nhưng hai vật gắn liền với những việc làm cuối cùng của người dũng sĩ – cây đàn và niêu cơm – là những chi tiết đặc sắc nhất. Phân tích hai chi tiết ấy, ta hiểu thêm vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Thạch Sanh.
Cây đàn đến với Thạch Sanh theo một cách rất riêng. Sau khi được cứu khỏi cũi sắt, thái tử con vua Thủy Tề mời chàng xuống thủy cung. Vua Thủy Tề đem vàng bạc ra đền ơn, nhưng Thạch Sanh không nhận, chỉ xin một cây đàn. Lựa chọn ấy nói lên nhiều điều: chàng không màng của cải, làm việc nghĩa không cần báo đáp, và tâm hồn chàng hướng về những điều giản dị, trong sáng.
Rồi cây đàn trở thành tiếng nói của chính Thạch Sanh. Khi bị hồn chằn tinh và đại bàng vu oan, bị giam trong ngục tối, chàng không kêu oan, không trách móc ai, chỉ lặng lẽ gảy đàn. Tiếng đàn kể lại nỗi oan khuất, trách người công chúa hờ hững, oán kẻ vong ân bội nghĩa. Tiếng đàn bay đến hoàng cung, khiến công chúa đang câm bỗng cười nói trở lại, xin vua cha gọi người đánh đàn vào. Nhờ vậy, Thạch Sanh được kể hết đầu đuôi và tội ác của Lý Thông bị phơi bày. Tiếng đàn ở đây là tiếng nói của công lí, là sức mạnh của sự thật – thứ sức mạnh mà người hiền lành không cần gươm giáo vẫn có.
Lần thứ hai, cây đàn vang lên trước quân mười tám nước chư hầu. Thạch Sanh xin vua không động binh, một mình ôm đàn ra trận. Tiếng đàn khiến quân giặc bủn rủn tay chân, không còn nghĩ đến chuyện đánh nhau. Lúc này, tiếng đàn là tiếng nói của hòa bình và lòng nhân đạo, cảm hóa cả những kẻ đến với lòng thù hận.
Chưa dừng lại ở đó, Thạch Sanh cho dọn niêu cơm nhỏ xíu thết đãi mấy vạn quân sĩ thua trận. Ai nấy ngạc nhiên, toan bỏ về; chàng thân chinh mời cầm đũa, hứa trọng thưởng cho ai ăn hết. Nhưng niêu cơm cứ ăn hết lại đầy. Chi tiết vừa thú vị vừa sâu sắc: niêu cơm là tấm lòng bao la của người chiến thắng, là sự hào phóng, bao dung của nhân dân ta với cả kẻ thù. Những người lính ấy được ăn no, được đối xử tử tế, nên cúi đầu lạy tạ rồi kéo nhau về nước.
Qua tiếng đàn và niêu cơm, Thạch Sanh hiện lên không chỉ là người dũng sĩ có sức mạnh diệt quái vật, mà còn là người anh hùng của lòng nhân ái: dùng sự thật để tự giải oan, dùng tình người để hóa giải chiến tranh. Hai chi tiết thần kì ấy thể hiện ước mơ công lí và khát vọng hòa bình của nhân dân lao động – một thông điệp đẹp mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Phân tích nhân vật Thạch Sanh trong sự đối lập với Lý Thông – mẫu 5
Một trong những cách truyện cổ tích làm nổi bật nhân vật chính là đặt bên cạnh họ một nhân vật trái ngược. Trong truyện Thạch Sanh, Lý Thông chính là tấm gương soi để vẻ đẹp của người dũng sĩ hiện lên rõ ràng hơn.
Ngay từ lần gặp đầu tiên, hai con người đã khác nhau hoàn toàn. Lý Thông thấy Thạch Sanh khỏe mạnh thì nghĩ ngay đến lợi ích của mình, bèn gạ kết nghĩa anh em. Còn Thạch Sanh mồ côi, không người thân thích, cảm động vì có người săn sóc nên vui vẻ nhận lời. Một bên toan tính, một bên chân thành – mối quan hệ “anh em” ấy ngay từ đầu đã là cái bẫy.
Thử thách đầu tiên cho thấy rõ hơn sự đối lập. Đến lượt phải nộp mạng cho chằn tinh, Lý Thông không dám đối mặt mà đẩy em kết nghĩa đi chết thay. Thạch Sanh nhận lời đi ngay, rồi dùng lưỡi búa giết chết quái vật. Lúc chàng trở về, mẹ con Lý Thông tưởng hồn chàng về báo oán, sợ hãi van lạy – kẻ hèn nhát và độc ác lộ nguyên hình. Thế nhưng khi biết chàng còn sống, Lý Thông lập tức nghĩ ra mưu mới để cướp công. Thạch Sanh vẫn tin, vẫn bỏ đi, không một lời nghi ngờ.
Ở thử thách cứu công chúa, sự đối lập càng gay gắt. Thạch Sanh tự xin xuống hang sâu, liều mình giết đại bàng, buộc dây đưa công chúa lên trước. Lý Thông đứng trên miệng hang, vừa nhận được công chúa đã sai quân lấp kín cửa hang để em mình chết dưới lòng đất. Một người dâng hiến cả tính mạng, một kẻ sẵn sàng giết người để chiếm công. Ở đây, cái ác không còn là thói tham lam thường tình mà đã trở thành tội ác.
Kết cục của hai nhân vật cũng khác nhau, và sự khác biệt ấy thể hiện quan niệm đạo đức của nhân dân. Thạch Sanh bị vu oan, bị giam vào ngục, nhưng tiếng đàn đã minh oan cho chàng. Được vua giao quyền xử tội, chàng tha cho mẹ con Lý Thông. Nhưng kẻ ác không thoát được lưới trời: chúng bị sét đánh chết giữa đường (bản Cánh diều kể thêm: hóa kiếp thành bọ hung). Còn Thạch Sanh cưới công chúa, dẹp yên quân chư hầu và được nhường ngôi vua.
Có thể tóm lại sự đối lập giữa hai nhân vật như sau: Thạch Sanh thật thà – Lý Thông gian xảo; Thạch Sanh dũng cảm – Lý Thông hèn nhát; Thạch Sanh vị tha – Lý Thông tham lam, vô ơn. Đặt hai nhân vật cạnh nhau, tác giả dân gian vừa ca ngợi người tốt, vừa vạch trần bộ mặt kẻ xấu, đồng thời khẳng định chân lí “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Nhờ có Lý Thông, vẻ đẹp của Thạch Sanh càng trở nên rực rỡ và đáng quý.
Cảm nhận về nhân vật Thạch Sanh – mẫu 6
Hồi nhỏ, em được nghe bà kể chuyện Thạch Sanh vào những buổi tối mất điện. Lên lớp 6, được đọc lại truyện trong sách Ngữ văn, em càng thêm yêu quý người dũng sĩ hiền lành ấy.
Điều khiến em thương Thạch Sanh trước tiên là hoàn cảnh của chàng. Không cha không mẹ, chàng sống một mình dưới gốc đa, ngày ngày vác búa lên rừng đốn củi. Vậy mà trong câu chuyện, chưa bao giờ thấy Thạch Sanh than thở. Chàng sống giản dị, chăm chỉ, ai cần giúp thì giúp.
Em cũng từng thấy sốt ruột vì Thạch Sanh quá thật thà. Lý Thông nhờ đi canh miếu, chàng đi ngay; Lý Thông bảo trốn đi, chàng trốn ngay; Lý Thông hỏi đường tới hang đại bàng, chàng dẫn đi ngay. Nhưng rồi em hiểu, chính vì lòng tốt trong sáng như vậy nên Thạch Sanh mới đáng được yêu thương. Người tốt không phải là người không bao giờ bị lừa, mà là người dù bị lừa vẫn không trở nên xấu xa.
Em khâm phục lòng dũng cảm của Thạch Sanh. Một mình đối mặt với chằn tinh giữa đêm khuya, rồi xuống hang sâu thăm thẳm để giết đại bàng – những việc ấy người thường chắc chẳng dám làm. Thế mà Thạch Sanh làm tất cả vì người khác, không hề nghĩ đến phần thưởng.
Nhưng điều em nhớ nhất là tấm lòng bao dung của chàng. Bị Lý Thông hại đến mấy lần, khi có quyền trừng trị, chàng lại tha. Khi quân mười tám nước kéo tới, chàng không đánh mà gảy đàn, rồi mời họ ăn cơm. Em thích nhất hình ảnh niêu cơm nhỏ xíu mà ăn mãi không hết, vì nó giống như tấm lòng của Thạch Sanh, lúc nào cũng rộng rãi với mọi người.
Câu chuyện khép lại khi Thạch Sanh cưới công chúa và lên làm vua. Em tin rằng một người như Thạch Sanh sẽ là một ông vua tốt. Qua nhân vật, em học được rằng mình cần sống thật thà, dũng cảm và biết tha thứ, nhưng cũng cần tỉnh táo trước những lời ngon ngọt của kẻ xấu.
Kết luận
Khi phân tích nhân vật Thạch Sanh, em nên bám vào các thử thách để làm rõ từng phẩm chất: thật thà, dũng cảm, nhân hậu, yêu hòa bình; kết hợp phân tích chi tiết thần kì (cung tên vàng, đàn thần, niêu cơm) và sự đối lập với Lý Thông. Đừng quên nêu ý nghĩa: nhân vật thể hiện ước mơ công lí, niềm tin “ở hiền gặp lành” của nhân dân.
Xem thêm: