Mở bài Hai đứa trẻ là phần dẫn vào bài nghị luận về truyện ngắn của Thạch Lam, văn bản học ở Bài 2 sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo (tập 1). Một mở bài tốt cần gọi đúng tên tác giả, tác phẩm và nói ngay điều bài văn sẽ bàn: bức tranh phố huyện, tâm trạng Liên hay chuyến tàu đêm. Dưới đây là 14 mẫu mở bài đã viết hoàn chỉnh, từ trực tiếp ngắn gọn đến gián tiếp nâng cao, kèm mẫu riêng cho từng dạng đề thường gặp.

Cách viết mở bài Hai đứa trẻ
- Giới thiệu Thạch Lam bằng một nét riêng, ví dụ cây bút truyện ngắn giàu chất thơ của Tự lực văn đoàn, hay viết về những phận người nghèo ở phố huyện.
- Nêu xuất xứ khi cần: Hai đứa trẻ thuộc tập Nắng trong vườn (1938).
- Câu cuối phải trúng đề: đề hỏi về Liên thì nhắc Liên, đề hỏi về chuyến tàu thì nhắc chuyến tàu, đừng dùng một câu chốt chung cho mọi đề.
- Nếu trích câu văn, chọn câu ngắn và chép đúng nguyên văn; nhận định của nhà phê bình phải ghi rõ người nói.
- Mở bài gián tiếp chỉ nên 4–6 câu; phần dẫn dắt quá dài sẽ lấn sang thân bài.
Mở bài trực tiếp Hai đứa trẻ
Mẫu 1 – ngắn gọn
Thạch Lam là cây bút có lối viết nhẹ nhàng mà thấm sâu trong Tự lực văn đoàn. Truyện ngắn Hai đứa trẻ (tập Nắng trong vườn, 1938) ghi lại một buổi chiều và một đêm ở phố huyện nghèo qua đôi mắt cô bé Liên. Sau những trang văn lặng lẽ ấy là niềm thương cảm của nhà văn với những kiếp người lay lắt trong bóng tối và nỗi khao khát ánh sáng âm thầm của họ.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, tác phẩm, vấn đề
Thạch Lam (1910–1942) vốn tên là Nguyễn Tường Vinh, rồi đổi là Nguyễn Tường Lân. Ông là thành viên Tự lực văn đoàn nhưng đi một con đường riêng: không viết những câu chuyện tình yêu, gia đình quen thuộc của nhóm, ông lặng lẽ kể về người nghèo ở ngoại ô và phố huyện. Thạch Lam viết hay nhất ở thể truyện ngắn trữ tình, ít sự kiện mà nhiều cảm xúc, câu văn trong và mềm. Hai đứa trẻ, thuộc tập Nắng trong vườn (1938), là truyện tiêu biểu nhất cho lối viết ấy. Qua cảnh phố huyện từ lúc chiều tàn đến đêm khuya và tâm trạng chị em Liên, An khi thức đợi chuyến tàu từ Hà Nội, nhà văn vừa bày tỏ lòng thương xót dành cho những cuộc đời tàn lụi, quẩn quanh, vừa nâng niu mong ước nhỏ nhoi về một thế giới sáng sủa hơn trong lòng họ.
Mở bài gián tiếp Hai đứa trẻ
Mẫu 3 – từ giai đoạn văn học 1930–1945
Văn xuôi Việt Nam những năm 1930–1945 có hai dòng chảy lớn. Một bên là các nhà văn hiện thực như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố phơi bày cái đói, cái nhục của người dân; một bên là Tự lực văn đoàn với những trang văn lãng mạn đòi quyền sống cho cá nhân. Thạch Lam đứng trong nhóm Tự lực nhưng ngòi bút của ông lại thường cúi xuống những góc đời nghèo khó, nên văn ông mang cả hơi thở hiện thực lẫn chất mơ mộng của người nghệ sĩ lãng mạn. Hai đứa trẻ là nơi hai nguồn mạch ấy gặp nhau rõ nhất: một phố huyện xơ xác được kể bằng giọng văn đầy chất thơ, một nỗi buồn rất thật được nhìn qua tâm hồn trong trẻo của cô bé Liên.
Mẫu 4 – từ phong cách Thạch Lam
Đọc Thạch Lam, người ta ít khi nhớ cốt truyện mà nhớ một không khí, một nỗi buồn mơ hồ cứ đọng lại sau trang sách. Ông thuộc số nhà văn viết truyện như viết thơ: sự kiện rất mỏng, có khi gần như chẳng có gì xảy ra, còn toàn bộ sức nặng dồn vào những rung động khẽ khàng của nhân vật trước cảnh vật và con người. Hai đứa trẻ là ví dụ tiêu biểu cho kiểu truyện ấy. Cả thiên truyện chỉ là một buổi tối hai chị em ngồi trông hàng và chờ chuyến tàu đêm, vậy mà qua đó hiện lên cả một phố huyện nghèo với những phận người mòn mỏi, cùng tấm lòng thương người kín đáo của tác giả.
Mẫu 5 – từ đề tài trẻ em trong văn Thạch Lam
Trẻ em xuất hiện nhiều trong truyện của Thạch Lam: Sơn và chị Lan đem chiếc áo bông cũ cho bé Hiên ở truyện Gió lạnh đầu mùa, Liên và An ngồi trông hàng giữa phố huyện vắng trong Hai đứa trẻ. Nhà văn thường mượn đôi mắt non nớt của các em để nhìn cuộc đời người lớn, nên cái nghèo, cái buồn hiện ra không gay gắt mà thấm dần, thấm sâu. Với Hai đứa trẻ, ngay nhan đề đã đặt hai đứa trẻ vào trung tâm câu chuyện. Qua những gì Liên thấy, Liên nghĩ trong một buổi tối mùa hạ, Thạch Lam kể về cả một phố huyện bị bỏ quên và về khát khao thoát khỏi bóng tối của những phận người bé mọn nơi đây.
Mẫu 6 – từ tuổi thơ của nhà văn
Có những trang văn được viết bằng kí ức. Theo hồi kí của bà Nguyễn Thị Thế, chị gái Thạch Lam, khi mới lên tám, cậu bé Thạch Lam đã cùng chị trông một gian hàng nhỏ ở phố huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, nơi có tuyến đường sắt nối Hà Nội với Hải Phòng chạy qua, và hai chị em cũng từng thức đợi chuyến tàu đêm. Những buổi tối ấy về sau trở lại trong Hai đứa trẻ, truyện ngắn được tập hợp vào Nắng trong vườn năm 1938. Nhờ vậy, cảnh chợ tàn, ngọn đèn hàng nước, đoàn tàu vụt qua hiện lên chân thực đến từng mùi vị, và nỗi buồn của cô bé Liên thấm thía như chính nỗi buồn tuổi nhỏ của tác giả.
Mẫu 7 – từ hình ảnh ngọn đèn chị Tí
Giữa màn đêm dày đặc của phố huyện, có một chấm sáng nhỏ cứ trở đi trở lại trong truyện của Thạch Lam: ngọn đèn dầu trên chõng hàng nước của chị Tí. Ánh đèn ấy chỉ soi được một khoảng đất bé, đủ cho vài bác phu ngồi uống chè, hút thuốc lào, nhưng với Liên, nó gần gũi đến mức trở thành thước đo cho cả đời mình. Trước khi chìm vào giấc ngủ, cô bé thấy “mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”. Từ một hình ảnh bình thường như thế, Hai đứa trẻ mở ra một vấn đề lớn hơn nhiều: số phận nhỏ bé, leo lét của người nghèo nơi phố huyện và tấm lòng xót thương của nhà văn dành cho họ.
Mẫu 8 – so sánh với Lão Hạc
Trong Bài 2 của sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, Hai đứa trẻ được đặt cạnh Lão Hạc, và sự gần nhau ấy thật đáng suy nghĩ. Nam Cao và Thạch Lam cùng viết về người nghèo những năm trước 1945, nhưng mỗi người mở ra một ô cửa riêng. Nam Cao đi thẳng vào bi kịch, để nhân vật đối diện với cái đói và cái chết đến tận cùng. Thạch Lam thì nhẹ hơn, không có biến cố dữ dội nào, chỉ có phố huyện chìm dần vào bóng tối và hai đứa trẻ đêm nào cũng thức chờ một chuyến tàu. Chính cái nhẹ ấy làm nên vẻ riêng của Hai đứa trẻ: một truyện ngắn thấm đẫm hiện thực mà giàu chất thơ, buồn mà vẫn ấm áp tình người.
Mẫu 9 – từ quy luật sáng tạo nghệ thuật
Người nghệ sĩ chân chính không phải đi tìm cái đẹp ở nơi xa, mà biết nhận ra nó ngay trong những điều tưởng như tầm thường nhất. Thạch Lam từng quan niệm cái đẹp có mặt ở khắp nơi, kể cả chốn hang cùng ngõ hẻm, và nhà văn phải biết tìm ra nó. Một bãi chợ tàn đầy vỏ bưởi, lá nhãn, một gánh phở đêm, một gia đình hát xẩm chưa có khách nghe, những thứ ấy đứng riêng lẻ thì chẳng có gì đẹp đẽ. Vậy mà trong Hai đứa trẻ, dưới cái nhìn của Thạch Lam, chúng kết lại thành một bức tranh vừa buồn vừa thơ về phố huyện nghèo, nơi con người vẫn lặng lẽ chờ một chút sáng sủa hơn cho đời mình.
Mẫu 10 – từ nhận định của Nguyễn Tuân
Nói đến Thạch Lam, người ta vẫn nhớ truyện ngắn nhiều hơn truyện dài. Quả thật, tiểu thuyết Ngày mới của ông ít được nhắc tới, còn những truyện ngắn như Gió lạnh đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan hay Hai đứa trẻ thì đến nay vẫn được đọc lại và đưa vào sách giáo khoa. Trong số đó, Hai đứa trẻ có lẽ là truyện kết tinh rõ nhất tài năng của ông: chỉ với quãng thời gian từ chiều tàn tới khuya ở phố huyện, nhà văn đã gói vào đó cả nỗi buồn của những cuộc đời nghèo khổ lẫn niềm khao khát ánh sáng chưa bao giờ tắt của họ.
Mẫu 11 – từ quan niệm văn chương của Thạch Lam
Trong lời tựa tập Gió đầu mùa, Thạch Lam khẳng định văn chương không nhằm “đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên”, mà là “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực” để thay đổi một thế giới còn nhiều giả dối, tàn ác. Quan niệm ấy giải thích vì sao một cây bút của Tự lực văn đoàn lại hướng về những phận người tăm tối nhất. Hai đứa trẻ cho thấy rõ điều đó: truyện không có tiếng kêu gào hay lời kết tội, chỉ có một phố huyện chìm dần vào đêm và hai đứa trẻ thức chờ chuyến tàu, nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại khiến người đọc day dứt về một cuộc sống cần được đổi khác.
Mở bài Hai đứa trẻ theo từng dạng đề
Mẫu 12 – đề phân tích cảnh phố huyện lúc chiều tàn
Mở đầu Hai đứa trẻ, Thạch Lam không giới thiệu nhân vật mà để cảnh vật lên tiếng trước: tiếng trống thu không gọi buổi chiều, một bầu trời mà “phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, rồi bãi chợ vãn người chỉ còn rác rưởi. Cảnh chiều đẹp như tranh nhưng nhuốm buồn, giống chính tâm trạng cô bé Liên đang ngồi trong gian hàng tối. Đi vào cảnh chiều nơi phố huyện, ta sẽ thấy hai mặt của ngòi bút Thạch Lam: một con mắt tinh tế với thiên nhiên và một trái tim thương cảm với những con người vất vả đang lặng lẽ tàn lụi theo ngày.
Mẫu 13 – đề phân tích tâm trạng Liên khi đợi tàu
Đêm nào cũng vậy, dù đã buồn ngủ díp mắt, hai chị em Liên vẫn gắng thức đến chín giờ để nhìn chuyến tàu từ Hà Nội đi qua phố huyện. Họ chẳng chờ khách mua hàng, cũng chẳng đợi ai về; họ chỉ muốn được thấy một thứ ánh sáng khác hẳn những ngọn đèn leo lét quanh mình. Ở những trang cuối Hai đứa trẻ, Thạch Lam dành những câu văn đẹp nhất để kể về khoảnh khắc ấy. Đi theo tâm trạng của Liên từ lúc chờ, lúc tàu đến cho tới khi đoàn tàu khuất hẳn, người đọc sẽ hiểu vì sao một chuyến tàu bình thường lại có thể trở thành cả một giấc mơ đối với những đứa trẻ nơi phố huyện nghèo.
Mở bài Hai đứa trẻ nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 14 – từ ý nghĩa của sự chờ đợi
Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng chờ đợi một điều gì đó: một lá thư, một người thân, một ngày mai khác đi. Sự chờ đợi cho thấy con người vẫn còn hi vọng, ngay cả khi cuộc sống trước mắt tẻ nhạt và đầy bóng tối. Thạch Lam đã viết về tâm thế ấy bằng một giọng văn nhẹ như hơi thở trong Hai đứa trẻ. Ở phố huyện nghèo, chị Tí vẫn dọn hàng nước dù chẳng mấy ai mua, bác Siêu vẫn gánh phở đi bán, vợ chồng bác xẩm vẫn ngồi đợi khách, còn Liên và An thì đêm nào cũng đợi chuyến tàu. Nguyễn Tuân cho rằng đọc lại Thạch Lam, người ta “vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học”. Cái dư vị ấy trong Hai đứa trẻ chính là nỗi buồn thương trước những kiếp người mỏi mòn, song hành với sự trân trọng niềm khát khao ánh sáng nhỏ nhoi mà bền bỉ của họ.
Nên chọn mẫu mở bài nào?
Các mẫu ở trên, dù mở theo hướng nào, đều gọi đúng tên Thạch Lam, nêu được nét chính của truyện và dẫn vào vấn đề cụ thể của đề bài. Khi làm bài kiểm tra hay ôn thi tốt nghiệp THPT, em nên chọn kiểu mở phù hợp với thời gian: mở trực tiếp khi cần nhanh, mở gián tiếp khi muốn bài văn có dấu ấn riêng. Hãy viết lại bằng giọng của mình và nhớ chuẩn bị phần kết tương xứng để bài văn trọn vẹn.
Xem thêm: