Kết bài Hai đứa trẻ là đoạn khép lại bài nghị luận về truyện ngắn của Thạch Lam, văn bản học ở Bài 2 sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo (tập 1). Kết bài hay cần đánh giá được giá trị hiện thực, nhân đạo và chất thơ của truyện, rồi để lại một suy nghĩ hay liên hệ riêng của người viết. Bài viết gồm 13 mẫu kết bài đã viết hoàn chỉnh: ngắn gọn, tổng kết, mở rộng, dùng nhận định và các mẫu riêng cho đề nhân vật Liên, cảnh đợi tàu, cảnh chiều tàn.

Cách viết kết bài Hai đứa trẻ
- Nhắc lại tên Hai đứa trẻ và Thạch Lam, khái quát vấn đề vừa phân tích trong một câu, không kể lại cốt truyện.
- Đánh giá ở hai mặt: nội dung (xót thương kiếp người nghèo, trân trọng ước mơ ánh sáng) và nghệ thuật (truyện không cốt truyện, tương phản sáng – tối, chất thơ).
- Kết cho đề nhân vật hay đoạn trích thì khép đúng vào nhân vật, đoạn trích đó trước khi mở rộng ra toàn tác phẩm.
- Phần liên hệ nên cụ thể và chân thành, tránh những câu hô hào chung chung.
- Kết bài dài khoảng 4–7 câu là vừa; nếu dùng nhận định, ghi đúng tên người nói.
Kết bài Hai đứa trẻ ngắn gọn, tổng kết
Mẫu 1 – ngắn gọn
Ít sự kiện mà nhiều dư âm, Hai đứa trẻ là một trang văn buồn nhưng ấm. Bằng giọng kể nhẹ nhàng giàu chất thơ, Thạch Lam vừa xót thương những kiếp người lam lũ nơi phố huyện, vừa trân trọng niềm mong ước ánh sáng nhỏ bé mà bền bỉ của họ.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Trong Hai đứa trẻ, nhà văn dựng lên một phố huyện nghèo qua ba khoảnh khắc: chiều tàn, đêm xuống và lúc chuyến tàu đi qua, đồng thời mở ra thế giới nội tâm tinh tế của cô bé Liên. Về nội dung, truyện cho thấy một cuộc sống tối tăm, quẩn quanh nhưng không tuyệt vọng, bởi con người ở đó vẫn còn biết chờ đợi. Về nghệ thuật, Thạch Lam chọn lối kể gần như không có cốt truyện, đặt ánh sáng đối lập với bóng tối, viết những câu văn giàu nhịp điệu như thơ. Hiện thực và lãng mạn hòa vào nhau, làm nên một truyện ngắn trữ tình đậm chất Thạch Lam.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí tác phẩm
Thạch Lam qua đời khi chưa tròn ba mươi hai tuổi, để lại không nhiều tác phẩm, nhưng Hai đứa trẻ đủ giữ cho tên tuổi ông một chỗ đứng bền vững trong văn xuôi hiện đại Việt Nam. Gần chín mươi năm đã trôi qua, truyện vẫn được học trong nhà trường, vẫn khiến người đọc bồi hồi trước ngọn đèn leo lét trên chõng hàng nước hay chuyến tàu đêm vụt qua phố huyện. Điều đó đúng như Nguyễn Tuân từng viết: đọc lại Thạch Lam, ta “vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học”.
Kết bài Hai đứa trẻ có liên hệ, mở rộng
Mẫu 4 – liên hệ bản thân
Gấp trang sách Hai đứa trẻ, em cứ nghĩ mãi về hình ảnh Liên cầm tay em nhìn đoàn tàu đi khuất. Hai chị em chẳng có gì nhiều, chỉ có một gian hàng nhỏ và một giấc mơ mơ hồ về Hà Nội, vậy mà họ không để mình ngủ quên trong bóng tối. Thạch Lam nhắc em rằng con người cần biết hướng về ánh sáng, kể cả khi ánh sáng ấy chỉ thoáng qua trong vài phút. So với Liên, em may mắn hơn rất nhiều; vì thế em càng phải biết quý những gì mình đang có và nuôi cho mình những ước mơ đủ lớn để bước ra khỏi mọi phố huyện chật hẹp của đời mình.
Mẫu 5 – liên hệ cuộc sống hôm nay
Phố huyện của Liên ngày nay đã khác nhiều: điện sáng khắp ngõ, tàu xe qua lại thường xuyên, trẻ em được đến trường. Thế mà câu chuyện về Liên và An vẫn chưa hề cũ. Ở đâu đó vẫn còn những đứa trẻ phải lớn trước tuổi, những người lớn ngày ngày làm lụng mà chẳng biết bao giờ đời mình khá hơn. Truyện ngắn nhỏ của Thạch Lam về một chuyến tàu đêm nhắc chúng ta đừng thờ ơ với những vùng sáng yếu ớt quanh mình, và hãy góp một chút ánh sáng, dù chỉ bằng một ngọn đèn nhỏ, cho những ai còn đang ngồi đợi trong bóng tối.
Mẫu 6 – mở rộng sang tác phẩm cùng đề tài
Đặt Hai đứa trẻ bên cạnh Lão Hạc của Nam Cao, ta càng thấy rõ giọng riêng của Thạch Lam. Nam Cao đẩy nhân vật đến tận cùng bi kịch để tố cáo xã hội, còn Thạch Lam chỉ lặng lẽ kể một đêm bình thường ở phố huyện, để nỗi buồn tự thấm vào người đọc. Hai cách viết khác nhau nhưng cùng chung một tấm lòng nhân đạo với người nghèo. Nếu Gió lạnh đầu mùa sưởi ấm ta bằng tình thương giữa những đứa trẻ, thì Hai đứa trẻ để lại một niềm thương man mác hơn, kéo dài như tiếng còi tàu tan dần vào đêm.
Mẫu 7 – dùng quan niệm văn chương của Thạch Lam
Thạch Lam quan niệm văn chương phải vừa góp phần thay đổi một thế giới giả dối, vừa “làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”. Hai đứa trẻ đã làm đúng điều ấy theo cách rất riêng của ông. Truyện không nói to, không kết tội ai, nhưng bóng tối dày đặc của phố huyện đủ để người đọc nhận ra một xã hội cần được đổi thay. Và qua tâm hồn trong veo của Liên, ta học được cách rung động trước một buổi chiều quê, biết thương những đứa trẻ nhặt nhạnh ở bãi chợ, biết nâng niu một ước mơ dù nhỏ. Đó là sức sống lâu bền của tác phẩm.
Mẫu 8 – dùng nhận định của Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân từng nhận xét Hai đứa trẻ “có một hương vị thật là man mác”. Đọc lại truyện, ta hiểu hương vị ấy đến từ đâu: từ mùi đất cát âm ẩm của phố huyện lúc chợ tàn, từ tiếng đàn bầu của vợ chồng bác xẩm trong đêm, từ ánh lửa bếp phở bác Siêu và ngọn đèn dầu bên gốc bàng. Thạch Lam không cần một cốt truyện li kì; ông chỉ cần những chi tiết đời thường được nhìn bằng con mắt yêu thương. Chính chất thơ thấm trong từng câu văn đã giúp Hai đứa trẻ vượt qua thời gian, đến với người đọc hôm nay vẫn tươi nguyên.
Mẫu 9 – trở lại hình ảnh mở đầu truyện
Hai đứa trẻ mở ra bằng tiếng trống thu không gọi buổi chiều và khép lại bằng tiếng trống cầm canh giữa đêm khuya. Giữa hai hồi trống ấy là một vòng quay khép kín của phố huyện: chợ tàn, đèn thắp, tàu qua, rồi tất cả lại chìm vào bóng tối, và ngày mai có lẽ vẫn y như vậy. Kết cấu vòng tròn đó cho thấy sự đơn điệu, tù đọng của cuộc sống nơi đây. Thế nhưng trong vòng tròn tưởng như bất biến ấy, Thạch Lam vẫn để lại một khe sáng: một cô bé biết buồn, biết nhớ và biết mơ. Chính khe sáng nhỏ ấy làm nên vẻ đẹp nhân đạo của thiên truyện.
Kết bài Hai đứa trẻ theo từng dạng đề
Mẫu 10 – đề phân tích nhân vật Liên
Liên là nhân vật trung tâm và cũng là đôi mắt mà Thạch Lam dùng để nhìn phố huyện. Cô bé đảm đang trước tuổi, biết thương mẹ, thương em, thương cả những đứa trẻ nghèo nhặt nhạnh ở bãi chợ, lại mang một tâm hồn nhạy cảm, dễ xao động trước cảnh chiều và hay nhớ về một Hà Nội đầy ánh sáng. Từ những xao động mơ hồ mà tinh tế của Liên, nhà văn vừa cho thấy biệt tài đi sâu vào tâm lí trẻ thơ, vừa bày tỏ niềm trân trọng với những tâm hồn non trẻ đang bị cuộc sống nghèo khổ vùi lấp. Đọc Hai đứa trẻ, ta thương Liên và mong cho em một ngày được sống trong ánh sáng thật sự.
Mẫu 11 – đề phân tích cảnh đợi tàu
Cảnh đợi tàu chỉ chiếm vài trang cuối, nhưng là đoạn đọng lại lâu nhất trong Hai đứa trẻ. Chuyến tàu đến rồi đi rất nhanh, mang theo ánh sáng và tiếng ồn của “một chút thế giới khác”, để lại phố huyện với bóng đêm như cũ. Qua tâm trạng chờ đợi của Liên và An, Thạch Lam vừa xót xa cho những cuộc đời mòn mỏi, vừa trân trọng ước mơ thoát khỏi cảnh sống tối tăm đang âm thầm nhen lên trong lòng họ. Ánh đèn của đoàn tàu vì thế không chỉ soi sáng một quãng đường sắt, mà còn soi vào tấm lòng nhân hậu của nhà văn.
Mẫu 12 – đề phân tích cảnh phố huyện lúc chiều tàn
Chỉ bằng vài nét chấm phá, Thạch Lam đã vẽ nên một bức tranh chiều quê vừa đẹp vừa buồn trong Hai đứa trẻ: bầu trời rực đỏ, lũy tre đen lại, tiếng ếch nhái văng vẳng, bãi chợ vắng người với mấy đứa trẻ cúi lom khom tìm nhặt. Thiên nhiên và con người hòa vào nhau trong cùng một nhịp tàn lụi của ngày. Đằng sau bức tranh ấy là đôi mắt tinh tế của một nghệ sĩ và trái tim biết rung động trước nỗi khổ nhỏ nhoi của người nghèo. Cảnh chiều tàn vì vậy không chỉ là phông nền cho câu chuyện, mà đã trở thành tiếng nói nhân đạo đầu tiên của tác phẩm.
Kết bài Hai đứa trẻ nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – khép lại bằng suy ngẫm về giá trị văn chương
Có những tác phẩm khiến ta xúc động vì những biến cố lớn, nhưng cũng có những tác phẩm làm ta nhớ mãi chỉ vì một nỗi buồn rất khẽ. Hai đứa trẻ thuộc loại thứ hai. Không có cái chết, không có xung đột, truyện chỉ ghi lại một buổi chiều và một đêm ở phố huyện, vậy mà khi khép trang sách, ta vẫn như nghe tiếng trống cầm canh khô khan, vẫn thấy ngọn đèn hàng nước chập chờn và chấm đỏ trên toa cuối xa dần sau rặng tre. Thạch Lam đã đem đến cho văn học một kiểu truyện ngắn mới, nơi chất trữ tình và cái nhìn hiện thực nương tựa vào nhau. Ông cũng nhắc chúng ta một điều giản dị: con người, dù sống trong bóng tối, vẫn có quyền mơ về ánh sáng, và văn chương có bổn phận gìn giữ những giấc mơ ấy.
Nên chọn mẫu kết bài nào?
Mỗi mẫu ở trên đều khép lại bằng một đánh giá về giá trị của truyện và tấm lòng của Thạch Lam, nhưng chọn một lối riêng: tổng kết, liên hệ, mở rộng hay trở về hình ảnh trong truyện. Khi ôn thi, em hãy chọn mẫu gần với đề mình làm, rồi viết lại bằng giọng văn của chính mình để phần kết thật tự nhiên và ăn khớp với mở bài.
Xem thêm: