Liêu trai là cách gọi tắt tập truyện Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, nhà văn Trung Quốc đời Thanh, gồm gần năm trăm truyện về ma, hồ ly, thần tiên. Từ tên sách ấy, tiếng Việt dùng chữ “liêu trai” để chỉ những chuyện, những khung cảnh huyền hoặc, ma mị, nơi người và ma qua lại với nhau, như khi nói “phim liêu trai” hay “cảnh đêm nghe liêu trai quá”.
| Nghĩa | (1) Tên gọi tắt tập Liêu trai chí dị; (2) chỉ chuyện, cảnh ma quái, huyền hoặc kiểu truyện ấy |
| Gốc chữ | 聊齋: tên thư phòng, cũng là bút hiệu của Bồ Tùng Linh (1640–1715) |
| Thuộc | Truyện chí quái, truyền kì viết bằng văn ngôn (chữ Hán cổ) |
| Dấu hiệu nhận biết | Ma nữ, hồ ly, cõi âm đan vào đời thường; chuyện lạ để nói chuyện người |

Liêu trai vốn là tên một căn phòng
Nghe “liêu trai”, nhiều người nghĩ ngay đến ma. Nhưng hai chữ này lúc đầu chẳng có gì đáng sợ. Chữ liêu (聊), theo Thiều Chửu và Trần Văn Chánh, có các nghĩa: tạm, hãy tạm; chút ít; lại có nghĩa trò chuyện, tán chuyện. Chữ trai (齋) là căn phòng riêng để học, như trong chữ thư trai (phòng đọc sách). Ghép lại, Liêu Trai là tên phòng sách của Bồ Tùng Linh, về sau thành luôn bút hiệu của ông.
Vì chữ liêu có hai hướng nghĩa nên cũng có hai cách giảng tên phòng. Cách thứ nhất hiểu là căn phòng tạm bợ, sơ sài, hợp với cảnh nhà một ông đồ thi mãi không đỗ. Cách thứ hai, như một bài trên VTC News, hiểu là căn phòng nhỏ để ngồi trò chuyện chuyện thiên hạ. Hai cách không loại trừ nhau, và cách nào cũng gợi được cảnh người ngồi nghe kể chuyện lạ rồi ghi lại.
Vế sau, chí dị (志異), giải thích việc làm ấy. Chữ chí ở đây không phải “ý chí” mà là ghi chép, như trong địa chí; chữ dị là lạ, như trong kì dị. Vậy Liêu trai chí dị là “ghi chép chuyện lạ ở phòng Liêu Trai”. Theo Wikipedia, ông sưu tầm và viết suốt hơn bốn mươi năm, bản thảo chỉ được chép tay truyền nhau, đến năm 1766 mới có bản khắc in. Cuộc đời nhiều lận đận của tác giả được kể ở bài ông đồ trượt thi Bồ Tùng Linh.
Tên sách nổi tiếng đến mức hai chữ đầu tách ra sống riêng. Người Việt nói “đọc Liêu trai”, “phim Liêu trai”, rồi xa hơn nữa là dùng “liêu trai” như một tính từ: khung cảnh liêu trai, chuyện tình liêu trai, màu sắc liêu trai. Cách dùng này rất quen trên báo chí và trong lời nói hằng ngày, dù các từ điển phổ thông trên mạng chưa ghi thành mục từ riêng.
Dấu hiệu của một câu chuyện “rất liêu trai”
Không phải chuyện ma nào cũng liêu trai. Truyện kinh dị thường muốn người đọc sợ; truyện của Bồ Tùng Linh thì ít khi dọa ai. Có thể nhận ra chất liêu trai qua mấy dấu hiệu sau.
- Nhân vật siêu nhiên mang tình người. Ma nữ, hồ ly, tinh hoa cỏ biết yêu, biết ơn, có khi tình nghĩa hơn cả con người.
- Cõi âm và cõi người sát vách. Nhân vật đi từ bên này sang bên kia tự nhiên như bước qua bậc cửa; người trong truyện nhiều khi cũng chẳng thấy lạ.
- Không gian vắng và đêm khuya. Chùa hoang, nhà trọ ven đường, thư phòng lúc đèn sắp tàn, bãi tha ma ngoài thành.
- Thư sinh nghèo là người gặp chuyện. Người đi thi, người dạy học, người đọc sách một mình là kiểu nhân vật quen thuộc.
- Chuyện lạ để nói chuyện thật. Đằng sau ma quỷ là quan tham, trường thi gian dối, người dân bị ức hiếp. Cuối nhiều truyện còn có lời bàn của tác giả, kí tên Dị Sử thị.
Wikipedia tóm điều này khá gọn: truyện Liêu trai làm mờ ranh giới giữa siêu nhiên và hiện thực đời thường, và xoay quanh chữ tình, bất kể đó là tình của người hay của loài phi thường. Khi một bộ phim hay một cảnh vật làm người ta thấy cái huyền ảo ấy, họ gọi là “liêu trai”.
Hai truyện cho thấy chất liêu trai
Dế chọi: hồn đứa trẻ hóa thành con dế
Học sinh lớp 9 gặp Liêu trai qua truyện Dế chọi (nguyên tác là Xúc chức), học ở Bài 1 “Thế giới kì ảo” sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức. Vua mê chọi dế, lệnh nộp dế đè từ quan tỉnh xuống tới dân. Thành, một người hiền bị ép làm lí chính, bắt được con dế quý thì đứa con chín tuổi lỡ tay làm chết, sợ quá nhảy xuống giếng. Đứa bé được cứu nhưng mê man như người gỗ; ngay sau đó xuất hiện một con dế nhỏ chọi thắng mọi đối thủ, được dâng lên tận vua. Hơn một năm sau đứa trẻ tỉnh lại và kể rằng chính mình đã hóa thành con dế ấy.
Tác dụng: chi tiết hóa dế là phần kì ảo, nhưng thứ nó tố cáo lại rất thật. Một trò chơi của nhà vua bắt một đứa trẻ phải đánh đổi cả linh hồn để cứu nhà. Gợi ý trả lời câu hỏi trong sách có ở bài soạn Dế chọi bộ Kết nối tri thức.
Nhiếp Tiểu Thiến: ma nữ ở ngôi chùa hoang
Thư sinh Ninh Thái Thần trọ ở ngôi chùa Lan Nhược bỏ hoang. Hồn ma cô gái Nhiếp Tiểu Thiến, chết năm mười tám tuổi, bị yêu quái sai đi dụ khách qua đường để hại. Nàng tìm đến Ninh Thái Thần, nhưng chàng ngay thẳng, không để sắc đẹp làm động lòng. Cảm tấm lòng ấy, nàng nói thật và nhờ chàng giúp thoát khỏi yêu quái; về sau hai người nên vợ chồng.
Tác dụng: con ma ở đây không đáng sợ mà đáng thương; cái ác thật nằm ở kẻ giam giữ nàng. Truyện này là gốc của phim Hồng Kông Thiện nữ u hồn (1987), bộ phim khiến chữ “liêu trai” gắn với hình ảnh ma nữ áo trắng, rừng đêm, gió lùa qua mái chùa trong trí nhớ của nhiều khán giả Việt.
Liêu trai, truyền kì và kinh dị khác nhau chỗ nào?
| Khái niệm | Là gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Liêu trai | Tên một tập truyện cụ thể, mở rộng thành tính từ chỉ không khí ma mị, huyền hoặc | Liêu trai chí dị; “một chuyện tình liêu trai” |
| Truyện truyền kì | Thể loại văn xuôi chữ Hán ghi chuyện lạ, đan yếu tố kì ảo với hiện thực | Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ |
| Truyện kinh dị | Truyện, phim nhằm gây sợ hãi, căng thẳng cho người đọc, người xem | Phim ma hiện đại, truyện kinh dị trên mạng |
Liêu trai chí dị thường được xếp vào lối chí quái và truyền kì. Ở Việt Nam, Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ cũng có cõi thủy cung, có hồn người hiện về, nhưng không ai gọi đó là “truyện Liêu trai” vì nó thuộc một tập khác, của một tác giả khác. Chỗ khác nhau cốt lõi: liêu trai là một cái tên, truyền kì là một thể loại. Đặc điểm của thể loại ấy được giải kĩ ở bài thể loại truyện truyền kì.
Luyện nhận diện chất liêu trai
Câu 1: Tên gọi “Liêu trai chí dị” có nghĩa là gì?
Đáp án: “Ghi chép chuyện lạ ở phòng Liêu Trai”. Liêu Trai là tên thư phòng, cũng là bút hiệu của Bồ Tùng Linh; chí là ghi chép; dị là lạ.
Câu 2: Trong câu “Con đường mòn qua rừng trúc lúc nửa đêm trông thật liêu trai”, từ liêu trai được dùng theo nghĩa nào?
Đáp án: Nghĩa mở rộng, dùng như tính từ: khung cảnh vắng vẻ, huyền hoặc, gợi cảm giác như có ma quỷ hiện ra. Câu này không nói đến tập truyện.
Câu 3: Chi tiết nào trong Dế chọi là yếu tố kì ảo kiểu liêu trai: (a) quan huyện bắt dân nộp dế; (b) đứa con hóa thành con dế nhỏ; (c) Thành bị đánh vì nộp dế không đủ?
Đáp án: (b). Hai chi tiết (a) và (c) là hiện thực xã hội; chính sự đan xen giữa chúng với chi tiết (b) làm nên chất liêu trai của truyện.
Câu 4: Vì sao không nên gọi một phim chỉ toàn cảnh máu me, hù dọa là “phim liêu trai”?
Đáp án: Vì chất liêu trai không nằm ở việc làm người xem sợ, mà ở cái huyền ảo, ma nữ có tình, cõi âm gần cõi người và câu chuyện ngầm nói về đời thật. Phim chỉ hù dọa nên gọi là phim kinh dị.
Ma nữ, hồ ly và hai chữ trên màn ảnh
Liêu trai chí dị là gì?
Là tập truyện viết bằng văn ngôn của Bồ Tùng Linh, gồm gần năm trăm truyện về ma, hồ ly, thần tiên và chuyện lạ, sáng tác vào cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII. Nhiều truyện mượn yếu tố siêu nhiên để phê phán quan lại và chế độ khoa cử.
Liêu trai nghĩa là gì khi dùng như tính từ?
Là ma mị, huyền hoặc, có cái gì đó vừa đẹp vừa rờn rợn. “Một chuyện tình liêu trai” thường là chuyện tình giữa người và ma, hoặc một mối tình đẹp đến mức khó tin là có thật.
Phim liêu trai là phim gì?
Là cách gọi các phim chuyển thể từ truyện của Bồ Tùng Linh, hoặc phim cổ trang có ma nữ, hồ ly, thư sinh, chùa hoang. Thiện nữ u hồn năm 1987 là ví dụ quen thuộc nhất với khán giả Việt.
Liêu trai chí dị có bao nhiêu truyện?
Wikipedia tiếng Việt và tiếng Anh đều ghi gần 500 truyện. Con số cụ thể xê dịch tùy bản, vì bản in đầu tiên năm 1766 đã lược bớt một số ghi chép ngắn, còn bản thảo gốc lại thất lạc mất một phần.