Ôn tập giữa học kì 2 là Bài 15 trong sách Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều tập 2, trang 63–69, gồm 7 tiết. Bài giải dưới đây đi qua từng tiết với đáp án đọc hiểu, bài tập trạng ngữ, dấu câu và gợi ý bài viết.

Tuần ôn tập giữa học kì 2 gồm những gì?
Sách in tên bài là “ÔN TẬP GIỮA HỌC KÌ II”. Tiết 1 đến tiết 5 mở đầu bằng phần A: thầy cô nghe từng bạn đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng; tiếp theo là phần bài tập:
- Tiết 1: đọc Trên công trường khai thác than, xác định chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ.
- Tiết 2: trả bài văn tả con vật.
- Tiết 3: đọc Trứng bọ ngựa nở (Vũ Tú Nam).
- Tiết 4: nghe – viết Hang Sơn Đoòng, dấu gạch ngang và dấu ngoặc đơn.
- Tiết 5: trạng ngữ. Tiết 6: đọc hiểu bài thơ Con chim chiền chiện (Huy Cận). Tiết 7: viết thư hoặc tả con vật.
Tiết 1: Trên công trường khai thác than (trang 63–64)
A. Mỗi học sinh đọc một đoạn văn, đoạn thơ khoảng 85 – 90 tiếng hoặc đọc thuộc lòng một đoạn thơ (bài thơ) đã học. Em ôn các bài đọc từ Bài 11 đến Bài 14 (bài có liên kết đã có lời giải):
| Bài | Bài đọc đã học |
| Bài 11. Trái tim yêu thương | Món quà, Buổi học cuối cùng, Những hạt gạo ân tình, Con sóng lan xa |
| Bài 12. Những người dũng cảm | Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Xả thân cứu đoàn tàu, Sự thật là thước đo chân lí, Người lính dũng cảm |
| Bài 13. Niềm vui lao động | Đàn bò gặm cỏ, Người giàn khoan, Đoàn thuyền đánh cá, Có thể bạn đã biết |
| Bài 14. Bài ca giữ nước | Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán, Mít tinh mừng độc lập, Bức ảnh, Trường Sa |
B. Đọc và làm bài tập: bài Trên công trường khai thác than (theo Trần Nhuận Minh) tả một mỏ than lộ thiên nhìn từ trên cao, có ảnh Bác Hồ thăm mỏ than Đèo Nai năm 1959. Từ ngữ: moong (đáy mỏ), xe ben la (xe trọng tải lớn dùng trong khai thác mỏ), xe gấu (loại xe tải rất lớn).
Câu 1 (trang 64): Tác giả quan sát được toàn cảnh công trường từ đâu?
Trả lời: Tác giả đứng ở bờ moong – mép trên của đáy mỏ – nên nhìn bao quát được cả công trường hình phễu.
Câu 2 (trang 64): Tìm những hình ảnh phản ánh cảnh lao động nhộn nhịp trên công trường.
Trả lời:
- Chín chiếc máy xúc dưới đáy moong cứ quay qua quay lại liên tục.
- Trên con đường xoáy trôn ốc, xe lên xe xuống không lúc nào ngớt.
- Xe ben la chạy nhanh như cào cào, chở đất đá ra bãi thải.
- Xe gấu cần cù như kiến, chở than ra máng ga rồi đổ xuống tàu hoả chở ra cảng.
Câu 3 (trang 64): Vì sao tác giả không thấy một bóng người nhưng vẫn biết con người đang có mặt ở khắp mọi nơi trên công trường? Điều đó nói lên đặc điểm gì của công trường này?
Trả lời: Vì mọi cỗ máy khoan, máy xúc, xe chở đều do con người điều khiển; máy chạy ở đâu là có người làm việc ở đó, chỉ là họ ngồi trong cabin nên không nhìn thấy. Điều đó cho thấy công trường rất hiện đại, dùng máy móc thay sức người, làm việc quy mô lớn.
Câu 4 (trang 64): Xác định chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ trong các câu sau:
Chúng tôi ra bờ moong. Ở đây, tôi nhìn được toàn cảnh của công trường.
Trả lời:
| Câu | Trạng ngữ | Chủ ngữ | Vị ngữ |
| Câu 1 | (không có) | Chúng tôi | ra bờ moong |
| Câu 2 | Ở đây | tôi | nhìn được toàn cảnh của công trường |
Tiết 2: Trả bài văn tả con vật (trang 64)
A. Thầy cô kiểm tra đọc như tiết 1. B. Trả bài viết gồm 4 việc: nghe thầy cô nhận xét chung; sửa lỗi chung cùng cả lớp; đọc kĩ lời nhận xét và tự sửa bài; đổi bài cho bạn kiểm tra.
Hướng dẫn tự sửa bài văn tả con vật
- Lỗi về cấu tạo (thiếu mở bài, thân bài hoặc kết bài; các đoạn, các ý sắp xếp lộn xộn): sửa bằng cách lập lại dàn ý, mỗi đoạn tả một nội dung – hình dáng trước, hoạt động sau.
- Lỗi về nội dung (tả sơ sài ngoại hình, tính tình, hoạt động; tả sai thực tế; thiếu tình cảm): thêm chi tiết em tự quan sát (màu lông, đôi mắt, tiếng kêu, thói quen ăn ngủ), dùng từ gợi tả, hình ảnh so sánh và thêm câu nói về tình cảm của em.
- Soát lỗi dùng từ, đặt câu, chính tả rồi chép lại đoạn đã sửa.
Tiết 3: Trứng bọ ngựa nở (trang 65–66)
A. Thầy cô kiểm tra đọc như tiết 1. B. Đọc và làm bài tập: bài Trứng bọ ngựa nở (theo Vũ Tú Nam) kể lại cảnh một ổ trứng bọ ngựa trên cành chanh nở sau cơn mưa, đàn bọ ngựa con lần lượt tụt xuống và tản ra khắp cây. Bài đọc này cũng có trong Ôn tập giữa kì 2 Tiếng Việt 4 Kết nối tri thức, ở tiết 3, 4 với câu hỏi khác.
Câu 1 (trang 66): Tìm từ ngữ, hình ảnh miêu tả hình dáng các chú bọ ngựa con khi mới trườn ra khỏi trứng.
Trả lời: Các chú bọ ngựa con “bé tí ti như con muỗi”, màu xanh cốm, có cái đầu tinh nghịch với đôi mắt thô lố; các chú cố trườn ra, thoát được đầu rồi đến mình, sau đó đung đưa trên sợi tơ mảnh mai.
Câu 2 (trang 66): Các chú bọ ngựa con làm cách nào để tuột xuống dưới cành chanh?
Trả lời: Mỗi chú treo mình trên một sợi tơ. Các chú cựa quậy, ngọ nguậy liên tục; các chú càng cựa mạnh, sợi tơ càng được kéo dài, nhờ vậy các chú được thả dần xuống phía dưới.
Câu 3 (trang 66): Hình ảnh chú bọ ngựa con đầu đàn gợi cho em suy nghĩ gì?
Trả lời: Chú đầu đàn “nhảy dù” xuống trước, đứng hiên ngang như một võ sĩ canh chừng cho đàn em. Em nghĩ chú thật gan dạ, có trách nhiệm như một người anh cả biết bảo vệ các em.
Câu 4 (trang 66): Tìm hình ảnh nhân hoá được tác giả sử dụng để tả các chú bọ ngựa.
Trả lời: Bọ ngựa được tả như con người: đầu tinh nghịch; chú đầu đàn nhảy dù, đứng hiên ngang, giương đôi tay kiếm, đứng lắc lư như võ sĩ, nhìn đàn em đổ bộ; cả đàn dàn quân ra khắp cây, sống dũng cảm, tự lập.
Câu 5 (trang 66): Vì sao tác giả dùng các từ dũng cảm, tự lập để nói về các chú bọ ngựa?
Trả lời: Vì vừa nở ra, các chú đã tự rời ổ, tự tụt xuống và tản đi khắp cây chanh để kiếm sống, không có bố mẹ chăm sóc, không sợ hãi. Tác giả coi chúng như những bạn nhỏ can đảm, biết tự lo cho mình.
Tiết 4: Nghe – viết Hang Sơn Đoòng (trang 66)
A. Thầy cô kiểm tra đọc như tiết 1. B. Nghe – viết: đoạn văn Hang Sơn Đoòng (theo Minh An) giới thiệu hang động lớn nhất hành tinh, nằm ở Quảng Bình. Khi viết, chú ý viết hoa các tên riêng Sơn Đoòng, Phong Nha – Kẻ Bàng, Quảng Bình, Việt Nam, Lào, Trái Đất, viết đúng số 150 và các dấu gạch ngang, ngoặc đơn.
C. Trả lời câu hỏi: Dấu gạch ngang và dấu ngoặc đơn trong đoạn văn Hang Sơn Đoòng được dùng làm gì?
- Dấu gạch ngang (Phong Nha – Kẻ Bàng, biên giới Việt – Lào) dùng để nối các tên riêng cùng thuộc một liên danh hoặc một mối quan hệ.
- Dấu ngoặc đơn (tỉnh Quảng Bình) dùng để đánh dấu phần chú thích, cho biết vườn quốc gia ấy nằm ở tỉnh nào.
Tiết 5: Luyện từ và câu – trạng ngữ (trang 66–67)
A. Thầy cô kiểm tra đọc như tiết 1. B. Luyện từ và câu.
Câu 1 (trang 66–67): Tìm trạng ngữ trong các đoạn văn dưới đây:
a) Đoạn văn của Đoàn Giỏi tả cây bàng qua bốn mùa. b) Đoạn văn của Dương Quỳnh Liên tả con đường trước nhà sau cơn mưa.
Trả lời:
| Đoạn | Trạng ngữ |
| a | Mùa xuân; Sang hè; Khi lá bàng ngả sang màu lục; Sang đến những ngày cuối đông |
| b | Sau cơn mưa; Trên đường; Ở vỉa hè bên kia; Góc phố |
Câu 2 (trang 67): Những trạng ngữ em tìm được ở bài tập 1 có tác dụng gì? Tìm các ý đúng:
a) Bổ sung thông tin về thời gian, địa điểm cho câu. b) Giúp đoạn văn miêu tả sự vật theo trình tự thời gian. c) Giúp đoạn văn miêu tả hoạt động theo trình tự không gian. d) Biểu thị tình cảm, cảm xúc của người viết.
Trả lời: Các ý đúng: a, b, c. Trạng ngữ ở đoạn a chỉ thời gian, giúp tả cây bàng lần lượt theo các mùa (ý b); trạng ngữ ở đoạn b chủ yếu chỉ nơi chốn, giúp tả hoạt động trên đường, vỉa hè, góc phố theo từng chỗ (ý c). Trạng ngữ không dùng để bày tỏ cảm xúc nên ý d sai.
Câu 3 (trang 67): Bổ sung trạng ngữ phù hợp vào chỗ trống trong các đoạn văn dưới đây:
a) Đoạn văn (theo Thiên Lương) tả cánh chim đại bàng giữa gió núi Trường Sơn, có 2 chỗ trống. Trạng ngữ: Có lúc, Giữa lúc gió đang gào thét ấy.
b) Đoạn văn (theo Vũ Thanh Quang) tả sân trường giờ ra chơi, có 2 chỗ trống. Trạng ngữ: Dưới bóng cây, Chỗ kia.
Trả lời:
- a) Chỗ trống 1 (trước câu về cánh chim đại bàng vẫn bay lượn): Giữa lúc gió đang gào thét ấy. Chỗ trống 2 (trước câu chim vẫy cánh vút lên cao): Có lúc – lặp lại với câu trước để tả hai cách bay nối tiếp nhau.
- b) Chỗ trống 1 (ngay sau câu nói về các bạn nam đá cầu): Chỗ kia – đi cặp với Chỗ này ở câu trước. Chỗ trống 2 (câu về nhóm bạn xem báo): Dưới bóng cây.
Tiết 6: Luyện tập đọc hiểu – Con chim chiền chiện (trang 68–69)
Bài thơ của Huy Cận có 7 khổ, mỗi khổ 4 dòng, thể thơ 4 chữ, tả chú chim chiền chiện bay lượn và hót trên cánh đồng. Từ ngữ: cao vợi (cao đến mức tầm mắt khó thấy), thì (thời điểm phát triển mạnh nhất).
Câu 1 (trang 69): Tìm những dòng thơ tả con chim chiền chiện đang bay lượn giữa không gian cao rộng.
Trả lời: Đó là dòng 2 của khổ 1 (chim bay vút lên cao), hai dòng đầu khổ 2 (cánh chim đập vào trời xanh, bay cao mãi), dòng đầu khổ 5 (chim lúc bay lên, lúc sà xuống) và hai dòng đầu khổ 6 (chim bay cao đến mức biến mất khỏi tầm mắt).
Câu 2 (trang 69): Em thích những từ ngữ nào tả tiếng chim trong bài thơ? Vì sao?
Trả lời: Ví dụ: Em thích các từ long lanh và trong veo. Tiếng hót vốn chỉ nghe được, nhưng nhà thơ lại tả như nhìn thấy được, lấp lánh như giọt sương, trong như ngọc, nên em cảm nhận tiếng chim thật trong trẻo, tinh khôi. Em cũng thích cách nói chim gieo từng chuỗi tiếng hót, như rải những hạt ngọc xuống cánh đồng.
Câu 3 (trang 69): Những khổ thơ nào tả đan xen cánh chim bay lượn và tiếng hót của chim?
Trả lời: Khổ 1 (bay vút cao – khúc hát ngọt ngào), khổ 2 (cánh đập trời xanh – tiếng hót long lanh) và khổ 6 (chim bay mất hút – chỉ còn tiếng hót).
Câu 4 (trang 69): Tiếng hót của chim chiền chiện gợi cho tác giả cảm xúc gì và những cảm nhận gì (về đồng quê, bầu trời)?
Trả lời: Tiếng chim làm tác giả thấy vui sướng, yêu đời, lòng rộn ràng. Nghe tiếng chim, tác giả cảm nhận đồng quê thật trù phú, thanh bình với lúa đang vào sữa; bầu trời như xanh hơn, cao rộng hơn nhờ tiếng hót. Con chim chiền chiện trở thành linh hồn của quê nhà.
Câu 5 (trang 69): Nêu cảm nghĩ của em về bài thơ.
Trả lời: Ví dụ: Bài thơ Con chim chiền chiện ngắn gọn, nhịp nhàng, đọc lên như một bài hát. Em như thấy một chú chim nhỏ tung cánh giữa bầu trời xanh, cất tiếng hót trong veo trên cánh đồng lúa. Bài thơ làm em thêm yêu thiên nhiên và quê hương, muốn được chạy trên bờ ruộng nghe chim hót vào mỗi sáng.
Tiết 7: Bài luyện tập viết (trang 69)
Chọn 1 trong 2 đề. Sách có ảnh đàn khỉ, chú gà con mới nở và chú lợn con.
Câu 1 (trang 69): Tưởng tượng em là cô Hiền trong câu chuyện Bức ảnh (trang 57), hãy viết một bức thư gửi bà Mùi sau cuộc gặp giữa hai cô cháu.
Trả lời: Em đọc lại bài Bức ảnh rồi viết thư đủ 3 phần. Thư tham khảo:
Hoà An, ngày 20 tháng 3 năm 2025
Mẹ Mùi kính yêu!
Từ hôm ở Phú Thọ trở về Cao Bằng, đêm nào con cũng nhớ mẹ. Con vẫn chưa quên giây phút bước vào căn nhà nhỏ, thấy mẹ nằm trên giường bệnh mà nước mắt cứ trào ra. Gần bốn mươi năm rồi, con mới được gặp lại người đã bế con suốt đêm vượt rừng năm ấy.
Mẹ ơi, mấy hôm nay mẹ đã đỡ mệt chưa? Mẹ nhớ uống thuốc đều, ăn uống đầy đủ mẹ nhé. Con đã phóng to bức ảnh cô bộ đội bế con năm xưa, treo ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Ai đến chơi, con cũng kể về mẹ.
Con biết ơn mẹ và các chú bộ đội nhiều lắm. Không có mọi người, chắc con không còn đến hôm nay. Tháng sau, con sẽ thu xếp công việc để về chăm mẹ ít ngày.
Con chúc mẹ mau khỏe, sống lâu với con cháu.
Con gái của mẹ
Hoàng Thị Hiền
Câu 2 (trang 69): Tả một con vật được nuôi ở nhà em (hoặc ở trường em, ở vườn thú).
Trả lời: Bài văn tham khảo: Nhà em nuôi một chú mèo mướp tên là Mun. Mun khoảng hai tuổi, nặng chừng hai cân. Bộ lông chú màu xám tro, điểm những vằn đen chạy dọc lưng, sờ vào mượt như nhung. Cái đầu tròn, hai tai nhỏ dựng đứng, luôn vểnh lên nghe ngóng. Đôi mắt Mun xanh biếc, ban đêm sáng lên như hai hòn bi ve. Bộ ria trắng cong cong, cái đuôi dài cứ ngoe nguẩy mỗi khi chú vui. Ban ngày, Mun thích nằm sưởi nắng ở bậu cửa sổ. Tối đến, chú rón rén đi khắp nhà, nhẹ nhàng đến mức không nghe một tiếng động. Mỗi lần em đi học về, Mun lại chạy ra cọ đầu vào chân em, kêu meo meo như mừng rỡ. Em rất yêu Mun và luôn chăm sóc chú chu đáo.