Chẳng phải chuyện đùa là bài đọc 1 (Chia sẻ và đọc) mở đầu Bài 17 (Khám phá thế giới) trong sách Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều tập 2, trang 86–88. Bài viết gợi ý trả lời 2 câu Chia sẻ về khám phá thế giới, 4 câu hỏi Đọc hiểu bài thơ của Quang Huy và cách học thuộc lòng.

Chia sẻ (trang 86)
Câu 1 (trang 86): Em hiểu thế nào là “khám phá thế giới”?
Sách có 4 bức tranh: (1) đoàn thuyền buồm lớn vượt sóng ra khơi; (2) một gia đình kéo vali xuống máy bay đi du lịch; (3) hai bạn nhỏ cúi xuống quan sát luống hoa; (4) một nhà khoa học làm thí nghiệm bên kính hiển vi.
Trả lời: Khám phá thế giới là tìm đến và tìm hiểu những điều mình chưa biết: những vùng đất, biển cả xa lạ; những cảnh đẹp, phong tục của nơi khác; cây cỏ, con vật quanh ta; những bí mật của khoa học. Như trong tranh: người đi biển tìm ra vùng đất mới, gia đình đi du lịch, các bạn nhỏ quan sát thiên nhiên, nhà khoa học làm thí nghiệm, ai cũng đang khám phá thế giới theo cách của mình.
Câu 2 (trang 86): Theo em, vì sao người ta cần khám phá thế giới?
Trả lời: Người ta cần khám phá thế giới vì:
- Khám phá giúp ta hiểu biết nhiều hơn về thiên nhiên, con người, đất nước khác.
- Nhờ khám phá, con người tìm ra cách chữa bệnh, làm ra máy móc, đồ dùng giúp cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Đi đây đi đó, quan sát, tìm tòi còn làm ta thấy cuộc sống thú vị, biết yêu quý và bảo vệ thế giới quanh mình.
Đọc: Chẳng phải chuyện đùa (trang 87)
Sách trích bài thơ của nhà thơ Quang Huy, gồm 32 dòng thơ bốn chữ. Bốn dòng mở đầu và bốn dòng kết thúc dùng lại cùng những câu thơ, chỉ đảo ngược thứ tự, như lời mời bạn đọc lắng nghe. Phần giữa là một loạt câu hỏi ngộ nghĩnh về tên gọi các đồ vật, cây cối, bộ phận cơ thể: tên có bộ phận này mà không làm được việc của bộ phận ấy.
Giải nghĩa từ:
- Lẳng lặng: im lặng, không nói gì.
- Cào: đồ dùng có nhiều răng, dùng để cào cỏ, san đất.
- Ruột gà (trong bút): cái lò xo xoắn nhỏ trong bút bi.
- Mắt cá (chân): chỗ xương lồi lên ở hai bên cổ chân.
- Hoa gọng vó: theo chú thích trong sách, đây là loài hoa có thể bắt côn trùng làm thức ăn; còn vó là dụng cụ bằng lưới để kéo cá.
Gợi ý đọc: đọc nhịp 2/2, giọng hóm hỉnh như đang đố bạn; lên giọng ở cuối mỗi câu hỏi; khổ đầu và khổ cuối đọc chậm, rõ.
Nội dung chính bài Chẳng phải chuyện đùa
Bài thơ là những phát hiện, thắc mắc thú vị của tác giả về tên gọi của các sự vật quen thuộc quanh ta. Qua đó, bài thơ khơi gợi ở các em sự tò mò, thích quan sát và ham khám phá thế giới, kể cả những điều tưởng như rất bình thường.
Đọc hiểu (trang 87, 88)
Câu 1 (trang 87): Câu thơ sau nói đến sự vật nào? Tác giả thắc mắc về điều gì?
Cái chai không đầu
Mà sao có cổ
Trả lời: Câu thơ nói về cái chai. Tác giả thắc mắc: chai đâu có đầu, vậy mà phần thon nhỏ ở trên lại được gọi là cổ chai. Ở người và con vật, cổ là chỗ nối đầu với mình, còn cái chai thì có cổ mà chẳng có đầu.
Câu 2 (trang 87): Tác giả còn phát hiện những điều gì lạ ở tên các sự vật khác?
Trả lời:
| Sự vật | Tên gọi có | Điều lạ |
| Gió | ngọn gió | có ngọn nhưng chẳng biết gốc ở đâu |
| Chiếc cào | răng cào | có răng mà không nhai được |
| Chiếc thuyền | mũi thuyền | có mũi mà không ngửi được |
| Cái ấm | tai ấm | có tai mà không nghe |
| Chiếc bút | ruột gà | trong bút lại có ruột gà (lò xo) |
| Quả na | na mở mắt | không có mắt mà vẫn biết mở mắt (khi chín) |
| Bàn, tủ | chân bàn, chân tủ | có chân nhưng chẳng bao giờ bước đi |
| Xe | bánh xe | gọi là bánh mà không ăn được |
| Bút | cây bút | gọi là cây mà không có cành |
| Bàn chân | mắt cá | chân người lại mọc ra mắt cá |
| Hoa gọng vó | gọng vó | có tên là vó mà chẳng có lưới |
Câu 3 (trang 87): Em thích câu thơ (đoạn thơ) nào nhất, vì sao?
Trả lời: Em có thể chọn:
- Cách 1: Em thích hai dòng nói về bàn chân “Mọc ra… mắt cá”. Dấu ba chấm làm em phải dừng lại một chút rồi bật cười, vì chân người sao lại có mắt cá được. Đọc xong, em sờ ngay vào mắt cá chân của mình.
- Cách 2: Em thích hai dòng hỏi về cái ấm có tai mà không nghe. Hình ảnh ấy rất ngộ nghĩnh, làm em nhìn chiếc ấm trà của ông bằng con mắt khác: ông vẫn cầm vào tai ấm để rót nước mời khách.
Câu 4 (trang 88): Em hãy kể tên một vài sự vật khác có tên gọi “lạ” như trong bài thơ.
Trả lời: Một số tên gọi “lạ” em tìm được:
- Cổ áo: áo có cổ mà không có đầu.
- Lưỡi dao, lưỡi cày: có lưỡi mà không nếm được.
- Chân núi, chân trời: có chân mà không đi được.
- Răng lược: có răng mà không nhai.
- Tay ghế: có tay mà không cầm nắm được.
- Miệng giếng, miệng chén: có miệng mà không nói, không ăn.
- Cánh cửa: có cánh mà không bay.
Học thuộc lòng 22 dòng thơ đầu (trang 88)
Em mở SGK trang 87 để học thuộc. 22 dòng đầu kết thúc ở câu hỏi về bánh xe. Mẹo học:
- Khổ đầu 4 dòng là lời mời nghe; sau đó cứ 2 dòng là một câu hỏi về một sự vật.
- Nhớ thứ tự 9 sự vật: chai – gió – cào – thuyền – ấm – bút – na – bàn, tủ – bánh xe.
- Học từng cặp 2 dòng, gấp sách đọc lại, rồi nối dần các cặp với nhau; đọc cho bố mẹ nghe để kiểm tra.
Bài học: thế giới quanh ta đầy điều thú vị; chỉ cần chịu quan sát và đặt câu hỏi “vì sao”, em đã bắt đầu khám phá thế giới rồi.
Đọc tiếp bài đọc 2 cùng chủ điểm: Đường đi Sa Pa.