Chiến công của những du kích nhỏ là bài đọc 1 (Chia sẻ và đọc) mở đầu Bài 16 (Tuổi nhỏ chí lớn) trong sách Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều tập 2, trang 70–72. Bài viết gợi ý giải ô chữ ở phần Chia sẻ và trả lời 5 câu hỏi Đọc hiểu câu chuyện của nhà văn Xuân Sách.
Phụ huynh kèm con học ở nhà có thể dùng bài Phong trào kế hoạch nhỏ Tiếng Việt 4 Cánh diều để xem gợi ý cho từng câu hỏi.

Chia sẻ (trang 70, 71)
Câu 1 (trang 70): Tìm chữ cái phù hợp với mỗi ô trống để ghi lời giải các câu đố sau:
Ô chữ trong sách có 6 dòng. Dòng 1 (CỨU QUỐC) và dòng 5 (GHI NHỚ) đã có sẵn chữ; dòng 2, 3, 4, 6 còn để trống, mỗi dòng ứng với một câu đố.
Dòng 2:
Hỏi ai ba tuổi thơ ngây
Đáp lời non nước, lớn ngay như thần
Sau khi toàn thắng giặc Ân
Một mình một ngựa hoá thân về trời?
Dòng 3:
Ai quê Tuần Giáo, Điện Biên
Lưu danh sử sách thiếu niên anh hùng
Vẻ vang dòng họ người Mông
Giữ tròn khí tiết, quyết không chịu hàng?
Dòng 4:
Thuở nhỏ, cờ lau tập trận
Lớn lên, dẹp loạn sứ quân
Non sông thu về một mối
Xứng danh hoàng đế anh hùng.
Là ai?
Dòng 6:
Ai quê ở bản Nà Ngần
Tên anh rất đỗi quen thân chúng mình
Vì dân vì nước hi sinh
Đội ta trang sử quang vinh mở đầu?
Trả lời:
| Dòng | Lời giải | Vì sao |
| 2 (10 ô) | THÁNH GIÓNG | Cậu bé lên ba bỗng vươn vai thành tráng sĩ, đánh tan giặc Ân rồi cưỡi ngựa sắt bay về trời. |
| 3 (7 ô) | VỪ A DÍNH | Thiếu niên người Mông ở Tuần Giáo, bị giặc Pháp bắt, tra tấn nhưng nhất định không khai. |
| 4 (10 ô) | ĐINH BỘ LĨNH | Thuở nhỏ lấy bông lau làm cờ bày trận, lớn lên dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế. |
| 6 (7 ô) | KIM ĐỒNG | Anh quê bản Nà Ngần (Cao Bằng), là đội trưởng đầu tiên của Đội, hi sinh khi bảo vệ cán bộ cách mạng. |
Mẹo kiểm tra: đếm số chữ cái của lời giải (bỏ dấu cách) phải bằng số ô của dòng đó.
Câu 2 (trang 71): Đọc từ xuất hiện ở cột dọc tô màu xanh.
Trả lời: Đọc các chữ ở cột xanh từ trên xuống: C (CỨU QUỐC) – H (THÁNH GIÓNG) – Í (VỪ A DÍNH) – L (ĐINH BỘ LĨNH) – Ớ (GHI NHỚ) – N (KIM ĐỒNG). Từ ở cột dọc là CHÍ LỚN, cũng chính là ý của tên Bài 16: Tuổi nhỏ chí lớn.
Đọc: Chiến công của những du kích nhỏ (trang 71–72)
Câu chuyện của nhà văn Xuân Sách kể về Lượt, một cậu bé trong Đội thiếu niên du kích làng Đình Bảng (Bắc Ninh) thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Có thể chia bài làm 3 đoạn:
- Đoạn 1 (từ đầu đến được tỉ mỉ): Lượt được tin bác Nhã muốn gặp, cả đêm không ngủ, ôn lại công việc của đội.
- Đoạn 2 (tiếp theo đến lấy ngay mới được): Lượt đi lấy thư ở các hòm thư bí mật và đọc báo cáo của các tổ.
- Đoạn 3 (còn lại): Lượt huỷ thư, xuống khu du kích báo cáo và được bác Nhã khen.
Giải nghĩa từ:
- Du kích: người dân cầm vũ khí đánh giặc ngay tại làng xóm mình, không thuộc bộ đội chính quy.
- Hòm thư bí mật: chỗ cất giấu thư (hốc tường, gốc cây…) chỉ người trong đội biết, dùng để chuyển tin.
- Mưu trí: có nhiều mưu kế hay, nghĩ ra cách khôn khéo để làm việc khó.
Gợi ý đọc: giọng kể hồi hộp ở đoạn Lượt lấy thư; đọc các câu báo cáo bằng mật mã rõ ràng, ngắt nghỉ đúng; ý nghĩ của Lượt đọc vui, tự hào; lời khen của bác Nhã đọc mạnh, phấn khởi.
Nội dung chính bài Chiến công của những du kích nhỏ
Bài đọc kể về Lượt và các bạn trong Đội du kích thiếu niên: tuy còn nhỏ nhưng các em đã khéo léo dùng mật mã, hòm thư bí mật để lấy đạn, súng và phá đường dây điện thoại của địch. Câu chuyện ca ngợi sự mưu trí, dũng cảm và lòng yêu nước của thiếu niên Việt Nam trong kháng chiến.
Mỗi câu hỏi trong phần hướng dẫn soạn bài Mùa xuân em đi trồng cây lớp 4 Cánh diều đều có gợi ý trả lời ngắn gọn, dễ hiểu với học sinh tiểu học.
Đọc hiểu (trang 72)
Câu 1 (trang 72): Đọc đoạn 1 và trả lời câu hỏi:
a) Bạn Lượt là ai? Trong câu chuyện, Lượt đang sống ở đâu?
b) Bác Nhã là ai? Trong câu chuyện, bác Nhã đang sống ở đâu?
Trả lời:
- a) Lượt là một cậu bé trong Đội du kích thiếu niên và là người phụ trách các tổ của đội (bác Nhã gọi các bạn là đội viên của Lượt). Lượt sống ở trong xóm, nơi có giặc Pháp lùng sục, nhà cửa bị đạn đại bác phá đổ, nên mỗi lần muốn gặp bác Nhã, em phải tìm đường xuống khu du kích.
- b) Bác Nhã là cán bộ chỉ huy du kích, người giao việc và nhận báo cáo của đội thiếu niên. Bác sống và hoạt động ở khu du kích, cách xa làng của Lượt.
Câu 2 (trang 72): Những chi tiết nào cho thấy Lượt rất thông minh và cẩn thận?
Trả lời:
- Trước khi lấy thư, Lượt nhìn quanh xem có ai không rồi mới lật hòn gạch ở góc tường đổ.
- Lượt giấu thư vào miếng lá chuối cuộn như cái loa kèn, giắt bên cạp quần cho khỏi bị phát hiện.
- Lượt không đọc thư ngay mà ra tận ngoài đồng, ngồi thụp sau bờ mương mới mở ra xem.
- Đọc xong, Lượt ghi nhớ hết, nhai nát giấy rồi vùi sâu dưới bùn để không còn dấu vết.
- Lượt hiểu ngay các mật mã: kẹo là đạn, dây khoai là dây điện thoại, cây mía là khẩu súng.
Câu 3 (trang 72): Tìm những câu thể hiện ý nghĩ của Lượt khi đọc báo cáo của các tổ. Những ý nghĩ đó giúp em hiểu gì về Lượt?
Trả lời:
- Các câu thể hiện ý nghĩ của Lượt: “Tổ thằng Hoan khá lắm!”; “Chà, bọn thằng Húc giỏi quá!”; tiếp đó Lượt còn nhẩm tính kho súng đã có năm khẩu và nghĩ phải báo ngay cho các anh du kích về lấy.
- Những ý nghĩ ấy cho thấy Lượt rất quý và tự hào về các bạn trong đội, biết khen ngợi đúng lúc khi bạn lập công. Lượt cũng là người chu đáo, có trách nhiệm: vừa vui đã nghĩ ngay đến việc tiếp theo cần làm cho kháng chiến.
Câu 4 (trang 72): Vì sao bác Nhã khen các đội viên của Lượt mưu trí, dũng cảm?
Trả lời: Vì các đội viên nhỏ tuổi đã làm được những việc rất khó và nguy hiểm ngay trong vùng có giặc: lấy được 50 viên đạn, cắt 14 đường dây điện thoại, kiếm được hai khẩu súng. Các em lại biết dùng hòm thư bí mật và viết báo cáo bằng mật mã (kẹo, dây khoai, cây mía) để giặc không thể phát hiện. Làm việc nguy hiểm là dũng cảm, còn nghĩ ra cách khôn khéo như thế là mưu trí.
Câu 5 (trang 72): Hãy cho biết cảm nghĩ của em về Đội du kích thiếu niên trong bài đọc.
Trả lời: Em có thể nói:
- Cách 1: Em rất khâm phục các anh trong Đội du kích thiếu niên. Các anh chỉ bằng tuổi em mà đã dám lấy súng, lấy đạn của giặc, lại còn biết dùng mật mã rất thông minh. Em sẽ cố gắng học giỏi để xứng đáng với các anh.
- Cách 2: Đọc bài, em thấy tự hào vì thiếu niên Việt Nam ngày xưa rất yêu nước. Tuổi nhỏ nhưng các anh đã góp sức đánh giặc. Em biết ơn các anh và muốn làm nhiều việc tốt cho quê hương.
Bài học: tuổi nhỏ cũng có thể làm được việc lớn nếu biết dũng cảm, khéo léo và đoàn kết với bạn bè. Tuổi nhỏ làm việc lớn còn là thiếu nhi cả nước gom giấy vụn đóng tàu, kể trong Tự đánh giá: Đoàn tàu mang tên Đội lớp 4 Cánh diều.
Đọc tiếp bài đọc 2 cùng chủ điểm: Em bé Bảo Ninh.