Nỗi sầu oán của người cung nữ là đoạn trích từ Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, được học trong phần Thực hành đọc của Bài 2, sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập một (trước đây đoạn trích cũng có trong Ngữ văn 10 chương trình cũ). Bài viết tổng hợp văn bản, thông tin tác giả, tác phẩm, cách chia đoạn, những giá trị nổi bật và sơ đồ tư duy để các em ôn tập.
Nội dung văn bản Nỗi sầu oán của người cung nữ
Đoạn trích gồm 36 câu song thất lục bát (từ câu 209 đến câu 244 của Cung oán ngâm khúc), là lời người cung nữ than thở về cảnh cô đơn nơi cung cấm sau khi bị nhà vua ruồng bỏ.

Trong cung quế âm thầm chiếc bóng
Đêm năm canh trông ngóng lần lần
Khoảnh làm chi bấy chúa xuân?
Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi!
Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ
Gác thừa lương thức ngủ thu phong
Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng
Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi.
Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm
Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ
Thâm khuê vắng ngắt như tờ
Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieo.
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ
Dấu dương xa đám cỏ quanh co
Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu
Gối loan tuyết đóng chăn cù giá đông.
Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng
Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền
Lạnh lùng thay giấc cô miên
Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u.
Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ
Mặt buồn trông trên cửa Nghiêm lâu
Một mình đứng tủi ngồi sầu
Đã than với nguyệt lại rầu với hoa!
Buồn một nỗi hồn đà khắc khoải
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ
Hoa này bướm nỡ thờ ơ
Để gầy bông thắm để xơ nhụy vàng!
Đêm năm canh lần nương vách quế
Cái buồn này ai để giết nhau?
Giết nhau chẳng cái lưu cầu
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa!
Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ
Xe thế này có dở dang không?
Đang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!
Văn bản trên theo bản phổ biến của Cung oán ngâm khúc. Một vài chữ có dị bản giữa các sách, chẳng hạn “dải đồng xé đôi” (có bản chép “xẻ đôi”), “bóng đèn thâm u” (có bản chép “âm u”); khi làm bài nên trích theo sách giáo khoa đang học.
Giải thích một số từ ngữ, điển tích
- Cung quế: cung điện nơi cung phi ở, cũng gợi cung trăng có cây quế. Chúa xuân: chỉ nhà vua. Khoảnh: khó tính, khảnh.
- Lầu đãi nguyệt, gác thừa lương: lầu đợi trăng, gác hóng mát. Phòng tiêu: phòng của cung phi, vách trát hạt tiêu cho thơm và ấm.
- Gương loan, dải đồng: gương có hình chim loan và dải lụa đồng tâm, tượng trưng cho sự gắn bó lứa đôi; bẻ nửa, xé đôi là tình duyên tan vỡ.
- Hồn bướm: hồn trong giấc mộng (điển Trang Chu mộng hóa bướm). Thâm khuê: buồng the sâu kín.
- Phượng liễn, dương xa: xe của vua; tương truyền vua đi xe dê, dê dừng ở cung nào thì vua nghỉ ở cung ấy.
- Ngày sáu khắc: suốt cả ban ngày. Tin nhạn: tin tức. Giấc cô miên: giấc ngủ cô đơn.
- Đồ tố nữ: tranh vẽ người con gái đẹp. Cửa Nghiêm lâu: cửa lầu nơi vua ngự.
- Lưu cầu: tên xứ có tiếng về gươm dao sắc; câu thơ ý nói nỗi buồn giết người mà chẳng cần dao kiếm. Nguyệt lão, tơ hồng: ông tơ xe duyên và sợi chỉ hồng buộc duyên vợ chồng.
Thông tin tác giả Nguyễn Gia Thiều
Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), tước Ôn Như Hầu, người làng Liễu Ngạn, xứ Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Ông sinh ra trong một dòng họ quý tộc nhiều đời làm tướng; mẹ ông là quận chúa Quỳnh Liên, con gái chúa Trịnh Cương, nên từ nhỏ ông đã được vào học trong phủ chúa.
Mười tám tuổi, ông bắt đầu làm quan võ, về sau giữ chức Tổng binh trấn giữ xứ Hưng Hóa và được phong tước hầu. Dù được chúa Trịnh tin dùng, ông vẫn thường lui về nhà riêng gần Hồ Tây để làm thơ, đàm đạo triết lí. Khi quân Tây Sơn ra Bắc, ông lánh lên miền núi; triều Tây Sơn mời ra cộng tác, ông cáo bệnh từ chối, về sống ở quê cho đến khi mất.
Nguyễn Gia Thiều là người tài hoa hiếm có: am hiểu văn học, sử học, triết học, lại giỏi âm nhạc, hội họa, kiến trúc, từng được giao trông coi việc trang hoàng phủ chúa. Ông có các tập thơ chữ Hán và chữ Nôm nhưng phần lớn đã thất truyền; tác phẩm còn lại và làm nên tên tuổi ông là Cung oán ngâm khúc.
Thông tin tác phẩm Nỗi sầu oán của người cung nữ
Các mục dưới đây tóm tắt những kiến thức hay gặp trong đề kiểm tra.
Cung oán ngâm khúc là tác phẩm gì?
Cung oán ngâm khúc là khúc ngâm viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ song thất lục bát. Tác phẩm là lời của một người cung nữ tài sắc vẹn toàn, từng được vua sủng ái nhưng rồi bị ruồng bỏ, sống mòn mỏi trong cung cấm. Đây được coi là một trong những đỉnh cao của thể ngâm khúc, cùng với Chinh phụ ngâm, và nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tác phẩm chịu ảnh hưởng của khúc ngâm này về thể loại và bút pháp.
Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác
- Xuất xứ: đoạn trích gồm câu 209 – 244 của Cung oán ngâm khúc.
- Hoàn cảnh: tác phẩm ra đời trong giai đoạn cuối Lê – Trịnh, khi xã hội phong kiến khủng hoảng, đời sống cung đình xa hoa mà đầy bất công. Thời điểm sáng tác cụ thể chưa được xác định chắc chắn.
Thể thơ, phương thức biểu đạt, nhân vật trữ tình
- Thể thơ: song thất lục bát (mỗi khổ hai câu bảy chữ và một cặp lục bát).
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, kết hợp miêu tả.
- Nhân vật trữ tình: người cung nữ bị thất sủng, trực tiếp giãi bày nỗi lòng.
Bố cục đoạn trích có mấy phần?
Đoạn trích có thể chia làm 2 phần:
- Phần 1 (4 khổ đầu): cảnh sống cô quạnh, lạnh lẽo của người cung nữ giữa chốn cung cấm, dấu vết ân sủng xưa đã phai mờ.
- Phần 2 (5 khổ cuối): nỗi chờ mong mỏi mòn, sầu muộn chồng chất, oán trách và khát vọng thoát khỏi cảnh giam hãm.
Giá trị nội dung
- Diễn tả sâu sắc nỗi cô đơn, buồn tủi, sầu oán của người cung nữ bị ruồng bỏ.
- Bày tỏ niềm cảm thông của tác giả với thân phận người phụ nữ tài sắc bị biến thành món đồ chơi rồi bị vứt bỏ nơi cung cấm.
- Ngầm tố cáo chế độ cung nữ của xã hội phong kiến và thể hiện khát vọng được sống, được hạnh phúc của con người.
Giá trị nghệ thuật
- Thể song thất lục bát được sử dụng nhuần nhuyễn, vần trắc ở câu thất và vần bằng ở cặp lục bát đan xen tạo âm điệu da diết, réo rắt.
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình, lấy cái lạnh lẽo, vắng vẻ của cảnh để nói nỗi cô đơn của người.
- Phép đối, so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ, câu hỏi tu từ được dùng dày đặc mà tinh tế.
- Ngôn ngữ trau chuốt, đài các, nhiều từ Hán Việt, điển tích; từ láy giàu sức gợi.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề “Nỗi sầu oán của người cung nữ” do người biên soạn đặt, gọi đúng hai trạng thái cảm xúc chủ đạo của đoạn trích: sầu – nỗi buồn cô đơn, mỏi mòn; oán – sự trách móc, uất ức trước thân phận bị ruồng bỏ. Nhan đề cũng chỉ rõ chủ thể của nỗi niềm ấy là người cung nữ, gắn với nhan đề gốc Cung oán (nỗi oán trong cung).
Sơ đồ tư duy Nỗi sầu oán của người cung nữ
Sơ đồ dưới đây tóm tắt sáu nhóm kiến thức chính về đoạn trích.

Lời kết
Nỗi sầu oán của người cung nữ là một trong những đoạn thơ tiêu biểu nhất của Cung oán ngâm khúc, nơi tài năng ngôn từ của Nguyễn Gia Thiều kết hợp với tấm lòng cảm thông sâu sắc cho thân phận người phụ nữ. Khi ôn tập, các em nên nhớ vị trí đoạn trích, bố cục hai phần, chủ đề và các nét nghệ thuật nổi bật, đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình và câu kết đầy phản kháng.
Xem thêm: