Ngâm khúc là thể loại trữ tình dài của văn học trung đại Việt Nam, viết bằng thể thơ song thất lục bát, trong đó một nhân vật tự cất lời than thở về nỗi buồn, nỗi nhớ và số phận của mình. Nếu đề hỏi “ngâm khúc là thể loại gì”, hai tác phẩm cần nhớ trước tiên là Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc.
| Nghĩa ngắn | Khúc ngâm dài, lời tự tình của một nhân vật bất hạnh |
| Chữ Hán | 吟曲: ngâm là ngân nga, đọc kéo dài giọng; khúc là bài, đoạn ca |
| Thể thơ | Song thất lục bát (còn gọi là thể ngâm), mỗi khổ bốn câu 7 – 7 – 6 – 8 chữ |
| Dấu hiệu nhận biết | Dài hàng trăm câu, nhân vật độc thoại, giọng buồn thương, ai oán |
| Tác phẩm tiêu biểu | Chinh phụ ngâm (bản dịch Nôm), Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn |

Ngâm khúc: tiếng than được ngân dài
Cái tên đã gợi ra cách thưởng thức. Bài ngâm không để đọc lướt mà để ngâm: giọng kéo dài, lên xuống, như người đang kể nỗi lòng trong đêm vắng. Vì vậy ngâm khúc gần như luôn mang một màu buồn. Người cất tiếng có thể là một người vợ có chồng ra trận, một cung nữ bị vua ruồng bỏ, một người vợ góa khóc chồng.
Giới nghiên cứu thường mô tả ngâm khúc là loại trữ tình trường thiên, tức thơ trữ tình rất dài, quy mô từ khoảng một trăm đến vài trăm câu. Toàn bộ bài là lời độc thoại của nhân vật trữ tình. Nhân vật ấy hồi tưởng hạnh phúc đã qua, xót xa cho hiện tại cô đơn, rồi day dứt với những câu hỏi: vì đâu mà khổ, hạnh phúc ở nơi nào. Khác với truyện, ngâm khúc gần như không có chuỗi sự kiện; cái “chuyển động” duy nhất là chuyển động của tâm trạng.
Đây là thể loại được xem là riêng có của văn học Việt Nam, vì nó gắn chặt với một thể thơ thuần Việt.
Đặc điểm nhận biết một khúc ngâm
Thể thơ song thất lục bát
Mỗi khổ gồm hai câu bảy chữ (song thất) rồi một cặp lục bát. Hai câu thất thường ngắt nhịp 3/4, câu lục và câu bát ngắt linh hoạt hơn. Vần đan vào nhau khá dày: tiếng cuối câu thất đầu vần với tiếng thứ năm câu thất sau (vần trắc), tiếng cuối câu thất sau vần với tiếng cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với tiếng thứ sáu câu bát, rồi tiếng cuối câu bát lại móc sang khổ kế. Vần trắc xen vần bằng, vần chân xen vần lưng tạo ra âm điệu trầm bổng, quấn quýt, rất hợp với lời than. Bài thơ song thất lục bát là gì có sơ đồ vần chi tiết hơn.
Nhân vật độc thoại, tâm trạng là chính
Nhân vật trong ngâm khúc ít khi có tên riêng. Họ là “người chinh phụ”, “người cung nữ”, đại diện cho cả một cảnh ngộ chung của nhiều người cùng thân phận. Điều người đọc nhớ không phải là việc họ làm, mà là nỗi lòng họ nói ra.
Kết cấu theo dòng thời gian của nỗi nhớ
Nhiều khúc ngâm đi theo đường gấp khúc: mở bằng hồi tưởng quá khứ, dừng lâu ở hiện tại bất hạnh, rồi khép lại bằng một ước mơ hay một tiếng than tuyệt vọng. Ngôn ngữ dùng nhiều tiểu đối và từ Hán Việt, khiến lời thơ vừa tha thiết vừa trang trọng.
Ba khúc ngâm tiêu biểu
Chinh phụ ngâm
Nguyên tác do Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán ở thế kỉ XVIII, dài 476 câu theo lối trường đoản cú (câu dài ngắn không đều). Bản người Việt quen đọc là bản dịch ra chữ Nôm theo thể song thất lục bát, thường được ghi là của Đoàn Thị Điểm; chuyện ai là dịch giả vẫn còn được bàn, xem thêm tác giả Đặng Trần Côn và bản dịch Chinh phụ ngâm. Khúc ngâm mở đầu bằng hai câu thất:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Chỉ hai câu đã có đủ không khí của cả bài: thời loạn và thân phận người phụ nữ. Chữ truân chuyên ở đây được giảng riêng trong bài nghĩa chữ truân chuyên trong Chinh phụ ngâm. Đoạn người chinh phụ một mình trong khuê phòng được phân tích ở bài soạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
Cung oán ngâm khúc
Tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều, viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu song thất lục bát. Người cất lời là một cung nữ tài sắc, từng được vua yêu rồi bị bỏ rơi trong cung cấm. Bài ngâm nổi tiếng vì lời thơ đầy suy tưởng về kiếp người, giọng oán hờn gay gắt hơn hẳn Chinh phụ ngâm. Từ chữ đành hanh trong Cung oán là một ví dụ cho lối dùng từ rất riêng của Nguyễn Gia Thiều.
Ai tư vãn
Tương truyền do Lê Ngọc Hân, vợ vua Quang Trung, viết để khóc chồng. Bài cũng làm theo thể song thất lục bát, ngắn hơn nhiều so với hai khúc ngâm trên. Nhiều người xếp bài này vào dòng ngâm khúc vì cùng thể thơ, cùng giọng than và cùng lối độc thoại.
Ngâm khúc khác truyện thơ ở đâu?
Hai thể loại này hay đứng cạnh nhau trong chương văn học thế kỉ XVIII – XIX, lại cùng viết bằng chữ Nôm, nên dễ lẫn.
| Tiêu chí | Ngâm khúc | Truyện thơ Nôm |
|---|---|---|
| Phương thức chính | Trữ tình: bộc lộ tâm trạng | Tự sự: kể một câu chuyện |
| Thể thơ thường dùng | Song thất lục bát | Lục bát |
| Cốt truyện | Gần như không có, chỉ có tình huống | Có cốt truyện dài, nhiều biến cố |
| Nhân vật | Một nhân vật độc thoại, ít cá thể hóa | Nhiều nhân vật, có tên, có tính cách |
| Ví dụ | Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc | Truyện Kiều, Lục Vân Tiên |
Cách thử nhanh: nếu kể lại tác phẩm trong ba câu mà vẫn thấy có đầu có cuối, đó là truyện thơ. Nếu kể lại chỉ còn “một người phụ nữ nhớ chồng và buồn”, đó là ngâm khúc.
Luyện tập nhận diện ngâm khúc
Câu 1: Vì sao Cung oán ngâm khúc được xếp vào thể loại ngâm khúc?
Đáp án: Vì tác phẩm viết bằng thể song thất lục bát, dài hàng trăm câu, toàn bộ là lời độc thoại của người cung nữ bộc lộ nỗi oán sầu về thân phận. Bài thiên về trữ tình, không xây dựng một câu chuyện nhiều biến cố.
Câu 2: Xác định số chữ của từng câu trong một khổ song thất lục bát.
Đáp án: Câu 1 và câu 2 có bảy chữ, câu 3 có sáu chữ, câu 4 có tám chữ, tức là 7 – 7 – 6 – 8.
Câu 3: Trong hai câu “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, / Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”, tiếng nào hiệp vần với nhau?
Đáp án: Tiếng cuối câu đầu là bụi hiệp vần trắc với tiếng thứ năm câu sau là nỗi. Đây đúng là kiểu vần lưng đặc trưng của hai câu thất trong thể song thất lục bát.
Câu 4: Chinh phụ ngâm mà học sinh đọc trong sách giáo khoa là nguyên tác hay bản dịch?
Đáp án: Là bản dịch Nôm theo thể song thất lục bát. Nguyên tác của Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán, theo lối câu dài ngắn không đều, nên xét đúng ra chỉ bản dịch mới mang hình thức ngâm khúc song thất lục bát.
Câu 4 cũng là chỗ bài làm hay mất điểm: viết “Đặng Trần Côn sáng tác Chinh phụ ngâm bằng thể song thất lục bát” là sai, vì thể thơ ấy thuộc về bản dịch.
Ngâm khúc qua vài câu ngắn
Ngâm khúc là thể loại gì?
Trong văn học, ngâm khúc là thể loại trữ tình dài của văn học trung đại Việt Nam, viết bằng thơ song thất lục bát, là lời tự tình của một nhân vật về nỗi buồn và số phận.
Thể ngâm là gì?
Thể ngâm là cách gọi khác của thể thơ song thất lục bát, vì đây là thể thơ của các khúc ngâm. Gặp chữ “viết theo thể ngâm” thì hiểu là mỗi khổ có bốn câu 7 – 7 – 6 – 8.
Ngâm khúc có phải là truyện không?
Không. Ngâm khúc thuộc loại trữ tình, trọng tâm là tâm trạng nhân vật, còn câu chuyện chỉ là cái nền rất mờ. Truyện thơ mới là thể loại kể chuyện bằng thơ.
Vì sao ngâm khúc thường buồn?
Vì nhân vật của ngâm khúc là những người lâm vào cảnh chia lìa, bị ruồng bỏ hoặc mất người thân. Thể song thất lục bát với vần trắc xen vần bằng lại có âm điệu dằng dặc, rất hợp để diễn tả nỗi buồn kéo dài.