Thanh điệu là sự cao thấp và đường nét lên xuống của giọng nói trong một âm tiết, có tác dụng phân biệt nghĩa của từ. Tiếng Việt có sáu thanh điệu: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng; nhờ đó ma, mà, má, mả, mã, mạ là sáu tiếng khác nghĩa. Thanh điệu trong tiếng Việt cũng là cơ sở để chia thanh bằng và thanh trắc khi làm thơ.
| Khái niệm | Độ cao và đường nét giọng bao trùm cả âm tiết, dùng để phân biệt nghĩa |
| Thuộc | Ngữ âm học; là một thành phần của âm tiết tiếng Việt |
| Số lượng | 6 thanh, ghi bằng 5 dấu (thanh ngang không có dấu) |
| Dấu hiệu nhận biết | Đổi thanh, giữ nguyên âm đầu và vần, nghĩa của tiếng thay đổi |
| Học ở | Tiếng Việt lớp 1 (dấu thanh), Ngữ văn THCS–THPT (luật thơ, ngữ âm) |

Thanh điệu: cái cao thấp của mỗi tiếng
Đọc chậm từ ba rồi bà. Môi, lưỡi gần như đứng yên, chỉ có giọng hạ xuống. Thế mà một tiếng chỉ người cha, tiếng kia chỉ người bà. Phần khác biệt ấy chính là thanh điệu.
Giới ngôn ngữ học mô tả thanh điệu là việc dùng cao độ của giọng để phân biệt nghĩa từ vựng. Ở tiếng Việt, thanh điệu trải trên toàn bộ âm tiết chứ không bám riêng vào một chữ cái, và âm tiết nào cũng mang một thanh, kể cả tiếng không có dấu. Vì vậy khi phân tích cấu tạo, người ta tách cấu tạo âm tiết tiếng Việt thành ba phần: âm đầu, vần và thanh điệu. Tiếng hoa có âm đầu h, vần oa, thanh ngang; thêm dấu huyền thành hoà, đổi hẳn sang một từ khác.
Ngôn ngữ có thanh điệu không phải hiếm: tiếng Hán phổ thông có bốn thanh chính, tiếng Thái, tiếng Lào cũng là ngôn ngữ có thanh. Người học tiếng Trung có thể đối chiếu cách ghi bốn thanh trong hệ phiên âm pinyin và cách đặt dấu.
Sáu thanh xếp theo bằng và trắc
Có hai cách xếp hay gặp. Cách thứ nhất dựa vào đường nét của từng thanh, theo mô tả giọng Bắc:
| Thanh | Dấu | Đường nét giọng | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Ngang | không dấu | Đi bằng, ở mức giữa | ca, mây, xanh |
| Huyền | ` | Thấp, đi xuống nhẹ | cà, mèo, nhà |
| Sắc | ´ | Đi lên, giọng căng | cá, đá, tiếng |
| Hỏi | dấu móc | Xuống rồi vòng lên | cả, nhỏ, chở |
| Ngã | ~ | Đi lên, có chỗ gãy giữa chừng | mã, ngõ, sữa |
| Nặng | chấm dưới | Đi xuống, tắc lại, ngắn | cạ, mẹ, lặng |
Cách thứ hai là cách của thơ ca: chia thành thanh bằng gồm ngang và huyền, giọng đi phẳng; và thanh trắc gồm sắc, hỏi, ngã, nặng, giọng gãy hoặc đổi hướng. Luật bằng trắc của thơ lục bát, thơ Đường luật đều dựa trên cách chia này.
Ở nhiều vùng Trung Bộ và Nam Bộ, thanh hỏi và thanh ngã được đọc gần như một. Đó là lý do chuyện viết đúng dấu hỏi, dấu ngã làm khó nhiều người, kể cả người lớn; mẹo nhớ có trong bài lém lỉnh hay lém lĩnh và luật hỏi ngã.
Nhận ra thanh điệu khi phân tích một tiếng
- Nhìn dấu trên chữ. Dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm chính của vần: hoà hay hòa, quý, nghiệp. Không có dấu nào thì đó là thanh ngang, chứ không phải “không có thanh”.
- Đổi thử thanh khác. Giữ nguyên âm đầu và vần, lần lượt thay sáu thanh. Nếu nghĩa đổi theo, phần vừa thay chính là thanh điệu.
- Xác định bằng hay trắc. Khi phân tích thơ, chỉ cần hỏi: tiếng này mang dấu huyền hoặc không dấu? Có thì là bằng, còn lại là trắc.
Với từ láy, có một mẹo dựa trên thanh điệu: hai tiếng thường cùng nhóm “ngang – sắc – hỏi” (vui vẻ, nhỏ nhắn) hoặc cùng nhóm “huyền – ngã – nặng” (lặng lẽ, mỡ màng). Mẹo này đúng với phần lớn từ láy, nhưng không phải mọi trường hợp.
Về nguồn gốc, nhà ngôn ngữ học người Pháp A. G. Haudricourt (1954) đã chỉ ra rằng tiếng Việt cổ vốn chưa có thanh điệu. Hệ thống sáu thanh hình thành dần khi một số âm cuối rụng đi và các phụ âm đầu thay đổi, để lại dấu vết trên độ cao của giọng.
Thanh điệu khác ngữ điệu và dấu thanh thế nào?
| Khái niệm | Phạm vi | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thanh điệu | Trong một âm tiết, đổi thanh là đổi nghĩa từ | ma khác má |
| Dấu thanh | Kí hiệu trên chữ viết để ghi thanh điệu | dấu sắc trong chữ má |
| Ngữ điệu | Cả câu, lên xuống giọng để hỏi, ngạc nhiên, ra lệnh | “Mai đi à?” lên giọng ở cuối |
| Giọng điệu (trong văn) | Thái độ, cảm xúc toát ra từ cả tác phẩm | giọng điệu trào phúng, giọng điệu bi thương |
Ngữ điệu không làm thay đổi nghĩa của từng từ; câu “Mai đi” đọc lên giọng hay hạ giọng thì từ mai vẫn là ngày mai. Thanh điệu thì khác: đổi mai thành mái là ra một từ mới.
Thanh điệu trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương
Luật bằng trắc ở hai câu mở đầu Truyện Kiều
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Câu sáu có tiếng thứ hai năm (bằng), tiếng thứ tư cõi (trắc), tiếng thứ sáu ta (bằng). Câu tám có tài (bằng), mệnh (trắc), là (bằng), nhau (bằng). Đúng luật lục bát: tiếng 2, 6, 8 bằng, tiếng 4 trắc. Riêng hai tiếng 6 và 8 của câu tám đều là thanh bằng nhưng một huyền một ngang, nên khi ngâm giọng vẫn có chỗ trầm chỗ bổng. Muốn ôn kĩ luật thể thơ này, xem cách làm thơ lục bát đúng luật.
Vần “eo” bằng thanh bằng trong Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Nguyễn Khuyến gieo một vần “eo” suốt bài: veo, teo, vèo, teo, bèo. Cả năm tiếng đều là thanh bằng, ba tiếng ngang, hai tiếng huyền, đúng lệ gieo vần bằng của thơ Đường luật. Vần hẹp, thanh phẳng làm không gian ao thu như thu nhỏ lại, lặng đi. Bài đọc hiểu Thu điếu trong sách Ngữ văn 8 phân tích thêm hệ thống vần này.
Thanh trắc và động từ mạnh trong Tự tình
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ở câu sau, tiếng toạc mang thanh nặng, lại khép bằng âm cuối c, nghe gọn và gắt như tiếng vải bị xé. Đặt cạnh đá, mấy cũng là thanh trắc, câu thơ có độ cứng, hợp với tư thế vươn lên của đá, của rêu. Thanh điệu ở đây tham gia vào ý thơ chứ không chỉ để đúng luật.
Luyện tập: năm câu về thanh điệu kèm đáp án
Câu 1: Tiếng Việt có mấy thanh điệu? Kể tên và cho biết thanh nào không có dấu ghi.
Đáp án: Có sáu thanh: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. Thanh ngang không có dấu, năm thanh còn lại ghi bằng năm dấu.
Câu 2: Thêm thanh điệu vào tiếng “la” để tạo ít nhất bốn từ có nghĩa khác nhau.
Đáp án tham khảo: la (la hét), là (là quần áo), lá (lá cây), lả (mệt lả), lạ (người lạ). Chỉ đổi thanh, âm đầu và vần giữ nguyên, nghĩa đã khác hoàn toàn.
Câu 3: Xếp các tiếng sau vào nhóm thanh bằng hoặc thanh trắc: sông, núi, mưa, gió, đường, ngõ, bạn, nhà.
Đáp án: Thanh bằng: sông, mưa, đường, nhà. Thanh trắc: núi, gió, ngõ, bạn.
Câu 4: Trong câu “Mai cậu có đi học không?”, phần lên giọng ở cuối câu là thanh điệu hay ngữ điệu? Vì sao?
Đáp án: Đó là ngữ điệu. Việc lên giọng rải trên cả câu để biểu thị câu hỏi, không làm đổi nghĩa của từ không hay bất kỳ từ nào. Thanh điệu thì gắn với từng âm tiết và đổi thanh là đổi nghĩa.
Câu 5: Kiểm tra luật bằng trắc ở các tiếng 2, 4, 6 của câu “Dưới cầu nước chảy trong veo”.
Đáp án: Tiếng 2 cầu thanh huyền (bằng), tiếng 4 chảy thanh hỏi (trắc), tiếng 6 veo thanh ngang (bằng). Câu sáu chữ này đúng luật lục bát: bằng – trắc – bằng.
Thanh điệu trong giờ Tiếng Việt và giờ Văn
Học sinh lớp 1 học thanh điệu thế nào?
Ở lớp 1, học sinh làm quen với thanh điệu qua các dấu: dấu huyền, dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng, và tiếng không dấu là thanh ngang. Các em học đặt dấu lên đúng chữ và đọc đúng giọng của từng dấu.
Thanh điệu có phải là dấu câu không?
Không. Dấu câu như dấu chấm, dấu phẩy dùng để ngắt câu. Dấu thanh nằm trên hoặc dưới chữ cái, ghi độ cao của một tiếng. Hai loại dấu này khác nhau hoàn toàn về chức năng.
Thanh điệu trong thơ có tác dụng gì?
Thanh điệu tạo nhạc tính cho câu thơ. Sự xen kẽ bằng trắc giữ cho câu thơ có nhịp trầm bổng; dồn nhiều thanh bằng gợi êm, chậm; dồn thanh trắc gợi gắt, mạnh. Khi phân tích, nên chỉ ra tiếng cụ thể và cảm giác mà thanh ấy gợi ra.
Vì sao người miền Nam hay nhầm dấu hỏi và dấu ngã?
Vì trong giọng nhiều vùng Nam Bộ và Trung Bộ, hai thanh này được phát âm gần giống nhau, tai không phân biệt được. Muốn viết đúng phải dựa vào mẹo chính tả hoặc nhớ mặt chữ.