Tứ tuyệt là thể thơ mỗi bài chỉ có bốn câu, mỗi câu năm chữ hoặc bảy chữ, còn gọi là tuyệt cú; phổ biến nhất là tứ tuyệt theo luật Đường. Bài bảy chữ gọi là thất ngôn tứ tuyệt, bài năm chữ gọi là ngũ ngôn tứ tuyệt. Học sinh gặp thể thơ này từ lớp 7 qua Bánh trôi nước, rồi tới Nam quốc sơn hà, Phò giá về kinh.
| Khái niệm | Thể thơ bốn câu, mỗi câu 5 hoặc 7 chữ, có luật về vần, bằng trắc, niêm |
| Tên khác | Tuyệt cú (絕句); thất tuyệt, ngũ tuyệt (gọi tắt) |
| Thuộc | Thơ cận thể (thơ Đường luật), thịnh từ đời Đường |
| Dấu hiệu nhận biết | Đúng 4 câu; vần ở chữ cuối câu 2, 4 (thường cả câu 1); bố cục khai, thừa, chuyển, hợp |
| Học ở | Ngữ văn 7, 8, 9 qua các bài thơ trung đại |

Chữ “tuyệt” trong tứ tuyệt nghĩa là gì?
Nhiều người đoán “tuyệt” là tuyệt hay, tuyệt đẹp. Thật ra trong tên thể thơ, chữ 絕 mang nghĩa dứt, ngắt. “Tứ” là bốn. Sách Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm giải thích theo hướng này: bài tứ tuyệt như được ngắt lấy bốn câu từ một bài bát cú tám câu. Tiếng Anh dịch tên Trung Quốc jueju sát nghĩa đen là “những câu bị cắt ngắn”.
Cách giải thích “ngắt từ bát cú” rất dễ nhớ, nhưng nên hiểu như một hình ảnh. Giới nghiên cứu cho rằng thơ bốn câu năm chữ đã có từ trước khi luật Đường hoàn chỉnh, có thể từ lối dân ca nhạc phủ thế kỷ 5–6, rồi đến đời Đường mới được luật hóa thành tuyệt cú. Cái chung của mọi cách giải thích là: tứ tuyệt là thể thơ ngắn nhất của thơ Đường, ý phải dồn vào rất ít chữ.
Về cách gọi, một bài tứ tuyệt có thể được ghi đầy đủ là thất ngôn tứ tuyệt Đường luật: “thất ngôn” cho biết số chữ, “tứ tuyệt” cho biết số câu, “Đường luật” cho biết bài theo luật. Muốn nắm hệ thống các thể trước khi đi sâu, có thể đọc bài cách xác định thể thơ cho học sinh.
Hai bài tứ tuyệt quen trong sách Ngữ văn
Bài thất ngôn tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm mà gần như ai cũng thuộc:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
(Hồ Xuân Hương, Bánh trôi nước)
Bốn câu, mỗi câu bảy chữ. Ba chữ cuối câu 1, 2, 4 là tròn – non – son, cùng vần “on”, đều thanh bằng. Câu 3 kết bằng nặn, thanh trắc, không vần: đúng chỗ “chuyển”. Câu 1 tả chiếc bánh, câu 2 tả cách luộc bánh, câu 3 bẻ sang chuyện bị người khác nhào nặn, câu 4 chốt lại bằng tấm lòng son. Chỉ bốn câu mà đủ hai tầng nghĩa: chiếc bánh và thân phận người phụ nữ. Phân tích chi tiết có trong bài tác giả, bố cục và nội dung Bánh trôi nước.
Bài thứ hai viết bằng chữ Hán, được nhiều sách gọi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Nam quốc sơn hà, phiên âm)
Vần rơi vào cư – thư – hư ở câu 1, 2, 4. Hai câu đầu khẳng định chủ quyền như một chân lý; câu 3 đổi giọng thành câu hỏi vặn kẻ xâm lược; câu 4 là lời cảnh cáo. Đọc thêm phần soạn ở bài soạn Nam quốc sơn hà lớp 8.
Với ngũ ngôn tứ tuyệt, ví dụ quen là Phò giá về kinh của Trần Quang Khải: bốn câu năm chữ, hai câu đầu kể hai chiến thắng, hai câu sau là lời nhắn nhủ giữ nước. Câu thứ ba có dị bản, sách giáo khoa chép “tu trí lực”, có bản chép “tu nỗ lực”.
Bốn dấu hiệu nhận ra một bài tứ tuyệt
- Đếm câu, đếm chữ. Đúng bốn câu; mỗi câu đều năm chữ hoặc đều bảy chữ. Bài bốn câu mà câu dài câu ngắn thì không phải tứ tuyệt.
- Tìm vần. Chữ cuối câu 2 và câu 4 bắt buộc hiệp vần; với thất ngôn, câu 1 thường cũng vần theo. Vần thường là vần bằng. Chữ cuối câu 3 để trống vần, mang thanh khác.
- Soi bằng trắc. Bài theo luật Đường lấy chữ thứ hai của câu 1 làm mốc: chữ đó thanh bằng thì bài theo luật bằng, thanh trắc thì theo luật trắc. Các chữ thứ 2, 4, 6 trong một câu luân phiên bằng trắc; câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3.
- Nhìn bố cục. Bốn câu thường ứng với khai (mở ý), thừa (nối ý), chuyển (đổi hướng), hợp (kết ý). Câu 3 hay là câu “xoay” của cả bài.
Khác bát cú, tứ tuyệt không bắt buộc đối. Nhiều bài vẫn đối hai câu đầu hoặc hai câu cuối cho chắc nhịp, như hai câu đầu Phò giá về kinh. Muốn ôn kỹ vần chân, vần lưng, có bài vần chân, vần lưng và cách gieo vần.
Thất ngôn, ngũ ngôn, luật và cổ thể
Tứ tuyệt chia theo hai tiêu chí. Theo số chữ, có thất ngôn tứ tuyệt (bảy chữ, thất tuyệt) và ngũ ngôn tứ tuyệt (năm chữ, ngũ tuyệt). Theo mức tuân luật, có tứ tuyệt Đường luật, giữ đủ luật bằng trắc và niêm, và tứ tuyệt cổ thể, chỉ giữ số câu, số chữ và vần, không ràng buộc chặt về bằng trắc.
Ở Việt Nam còn có tứ tuyệt chữ Hán (thơ thời Lý, Trần, Lê) và tứ tuyệt chữ Nôm, viết bằng tiếng Việt như thơ Hồ Xuân Hương. Thơ hiện đại cũng có những bài bốn câu bảy chữ được gọi theo thói quen là tứ tuyệt, dù nhiều bài không theo luật Đường. Đặc điểm luật riêng của dạng bảy chữ được trình bày trong bài luật thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Tứ tuyệt khác bát cú và thơ bốn chữ ở đâu?
| Tiêu chí | Tứ tuyệt | Bát cú | Thơ bốn chữ |
|---|---|---|---|
| Số câu | 4 câu | 8 câu | Không giới hạn |
| Số chữ mỗi câu | 5 hoặc 7 | 5 hoặc 7 | 4 |
| Đối | Không bắt buộc | Bắt buộc ở hai cặp câu giữa | Không bắt buộc |
| Bố cục | Khai, thừa, chuyển, hợp | Đề, thực, luận, kết | Theo khổ, linh hoạt |
| Ví dụ SGK | Bánh trôi nước | Qua Đèo Ngang | Lượm (Tố Hữu) |
Nhầm phổ biến nhất là đọc “tứ” thành “bốn chữ”. Chữ “tứ” trong tứ tuyệt đếm câu, không đếm chữ; thơ bốn chữ là một thể khác hẳn, gần với vè và đồng dao.
Luyện tập nhận biết thể tứ tuyệt
Câu 1: Bài thơ có bốn câu, mỗi câu năm chữ, vần ở chữ cuối câu 2 và câu 4 thuộc thể nào?
Đáp án: Ngũ ngôn tứ tuyệt. Năm chữ mỗi câu là “ngũ ngôn”, bốn câu là “tứ tuyệt”.
Câu 2: Chỉ ra các chữ gieo vần trong bài Bánh trôi nước.
Đáp án: tròn (câu 1), non (câu 2), son (câu 4), cùng vần “on”. Câu 3 kết bằng nặn không hiệp vần.
Câu 3: Trong Nam quốc sơn hà, câu nào giữ vai trò “chuyển”?
Đáp án: Câu 3, “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”. Hai câu trước khẳng định chủ quyền, câu này đổi sang chất vấn kẻ thù, mở đường cho lời cảnh cáo ở câu 4.
Câu 4: Bài thơ tám câu, mỗi câu bảy chữ có phải tứ tuyệt không?
Đáp án: Không. Đó là thất ngôn bát cú. Tứ tuyệt luôn chỉ có bốn câu.
Câu 5: Khổ ca dao bốn câu lục bát có được gọi là tứ tuyệt không?
Đáp án: Không. Lục bát xen câu sáu chữ, câu tám chữ và gieo vần lưng; tứ tuyệt yêu cầu bốn câu đều năm chữ hoặc đều bảy chữ.
Những điều cần chắc khi gặp bài tứ tuyệt
Thơ tứ tuyệt là gì?
Là cách gọi đầy đủ của thể tứ tuyệt: bài thơ bốn câu, mỗi câu năm hoặc bảy chữ, gieo vần ở chữ cuối các câu 2 và 4. Bài theo luật Đường còn phải giữ luật bằng trắc và niêm.
Thất ngôn tứ tuyệt là gì?
Là bài tứ tuyệt mỗi câu bảy chữ, tổng cộng hai mươi tám chữ. Vần thường ở câu 1, 2, 4; nhịp phổ biến là 4/3.
Ngũ ngôn tứ tuyệt là gì?
Là bài tứ tuyệt mỗi câu năm chữ, cả bài chỉ hai mươi chữ. Ít chữ nên ý thơ rất nén, nhiều bài như một lời khắc lên đá.
Tứ tuyệt có bắt buộc đối không?
Không bắt buộc. Người viết có thể cho đối hai câu đầu, hai câu cuối, hoặc không đối, khác với bát cú phải đối ở hai câu thực và hai câu luận.