Ngôi kể thứ ba là cách kể trong đó người kể chuyện đứng ngoài câu chuyện, không xưng “tôi”, gọi nhân vật bằng tên hoặc bằng “anh ta”, “cô ấy”, “hắn”, “họ”. Người kể giấu mình nên còn được gọi là người kể ẩn danh; ta chỉ nhận ra họ qua lời kể. Đây cũng là đáp án cho câu hỏi hay gặp “kể theo ngôi thứ ba là gì” trong đề đọc hiểu.
| Khái niệm | Người kể không phải nhân vật, đứng ngoài truyện để kể lại |
| Nghĩa của “ngôi thứ ba” | Mượn từ ngôi xưng hô: ngôi chỉ người được nói tới, không phải người nói |
| Thuộc | Phương diện người kể chuyện, điểm nhìn trong văn tự sự |
| Dấu hiệu nhận biết | Không có “tôi” của người kể; nhân vật được gọi bằng tên hoặc đại từ ngôi ba |
| Học ở | Ngữ văn THCS (ngôi kể), Ngữ văn 10 (người kể chuyện, điểm nhìn) |

Ngôi kể thứ ba là gì?
Chữ “ngôi” mượn từ ngữ pháp. Ngôi thứ nhất là người nói (tôi, chúng tôi), ngôi thứ hai là người nghe (bạn, các em), ngôi thứ ba là người hoặc vật được nhắc tới (nó, họ, ông ấy). Bảng ngôi xưng hô trong tiếng Việt và cách dùng giải thích kĩ phần ngữ pháp này. Sang văn tự sự, ngôi kể cho biết người kể đang đứng ở vị trí nào so với câu chuyện.
Với ngôi thứ ba, người kể không bước vào thế giới truyện. Họ không có tên, không có tuổi, không làm gì trong cốt truyện. Tài liệu Ngữ văn 10 gọi đây là người kể chuyện ngôi thứ ba: một người kể ẩn danh, không hiện diện như nhân vật, ta chỉ biết đến họ nhờ chính giọng kể. Vì đứng ngoài, người kể có thể đi theo nhiều nhân vật, nhảy qua nhiều không gian, kể chuyện xảy ra cùng lúc ở hai nơi.
Cần tách hai khái niệm hay bị trộn. Ngôi kể trả lời câu hỏi “ai kể”. Điểm nhìn trần thuật trong truyện trả lời câu hỏi “nhìn sự việc qua mắt ai”. Một truyện kể ở ngôi thứ ba vẫn có thể nhìn mọi thứ qua mắt một nhân vật duy nhất.
Toàn tri và hạn tri: hai cách đứng ngoài
Người kể ngôi thứ ba không phải lúc nào cũng “biết tuốt”. Sách Ngữ văn 10 chia làm hai trường hợp.
| Kiểu | Người kể biết đến đâu | Hiệu quả |
|---|---|---|
| Ngôi thứ ba toàn tri | Biết hết: mọi nhân vật, mọi nơi, mọi lúc, cả suy nghĩ thầm kín của từng người | Bao quát, khách quan, dẫn dắt nhiều tuyến truyện |
| Ngôi thứ ba hạn tri | Chỉ biết những gì một nhân vật trung tâm thấy, nghe, nghĩ | Gần gũi nội tâm nhân vật, giữ được bất ngờ cho người đọc |
Truyện dân gian gần như luôn dùng kiểu toàn tri. Truyện ngắn hiện đại hay chọn hạn tri, hoặc đổi qua lại giữa hai kiểu ngay trong một tác phẩm, như cách máy quay lúc đứng xa lúc áp sát mặt nhân vật.
Nhìn đại từ, nhìn vị trí người kể: cách nhận ra ngôi thứ ba
- Tìm chữ “tôi” ngoài lời thoại. Nếu chữ “tôi” chỉ xuất hiện trong ngoặc kép, tức lời nhân vật nói, còn lời kể thì không có, đó là dấu hiệu đầu tiên của ngôi thứ ba.
- Xem nhân vật chính được gọi bằng gì. Tên riêng (Liên, ông Hai, Chí Phèo) hoặc “hắn”, “y”, “bà”, “nó” trong lời kể.
- Hỏi: người kể có tham gia sự việc không? Người kể ngôi ba không bị ai nói chuyện cùng, không có mặt ở hiện trường như một con người.
- Để ý chỗ người kể biết suy nghĩ của nhiều người. Đọc được ý nghĩ của hai, ba nhân vật khác nhau thì gần như chắc là ngôi thứ ba toàn tri.
Một bẫy nhỏ: có truyện mở đầu bằng “tôi” rồi để “tôi” ấy kể lại chuyện người khác. Khi đó người kể vẫn là ngôi thứ nhất, dù nhân vật chính được gọi bằng tên. Phần này đã có trong bài dấu hiệu của ngôi kể thứ nhất.
Bốn truyện quen thuộc kể bằng ngôi thứ ba
Thánh Gióng: người kể biết cả chuyện thần kì
Truyền thuyết kể từ lúc bà mẹ ướm chân vào vết chân lạ, đến khi Gióng vươn vai, ra trận, rồi bay về trời. Người kể không là ai trong làng Gióng, nhưng biết mọi điều, kể cả những chuyện không người thường nào chứng kiến. Ngôi thứ ba toàn tri ở đây tạo giọng kể như lời truyền lại của cả cộng đồng. Có thể ôn lại văn bản qua bài soạn truyền thuyết Thánh Gióng ở hai bộ sách.
Làng: đứng ngoài nhưng bám sát ông Hai
Kim Lân để người kể gọi nhân vật là “ông Hai”, “ông lão”, không hề xưng “tôi”. Nhưng phần lớn truyện được nhìn qua cảm nhận của chính ông: niềm tự hào về làng, cú choáng khi nghe tin làng theo giặc, những đêm trằn trọc. Lời kể nhiều chỗ hòa vào lời nghĩ của nhân vật, nên người đọc vừa thấy ông Hai từ bên ngoài vừa nghe được giằng xé bên trong. Bài soạn Làng của Kim Lân có câu hỏi về chính chi tiết này.
Hai đứa trẻ: ngôi thứ ba hạn tri qua đôi mắt Liên
Thạch Lam kể bằng ngôi thứ ba, nhưng phố huyện lúc chiều tàn, ngọn đèn chị Tí, chuyến tàu đêm đều hiện lên qua cảm nhận của Liên. Người kể gần như không bước ra khỏi tâm trạng cô bé, nên truyện ít sự kiện mà dày cảm xúc.
Chí Phèo: giọng kể pha trộn nhiều giọng
Nam Cao dùng người kể ngôi thứ ba toàn tri, có lúc đứng xa kể đời Chí, có lúc để lời kể nhuốm giọng của dân làng hay của chính Chí Phèo. Đó là lí do đoạn mở đầu truyện đọc lên nghe như nhiều người cùng lên tiếng.
Đặt ngôi thứ ba cạnh ngôi thứ nhất
| Tiêu chí | Ngôi thứ nhất | Ngôi thứ ba |
|---|---|---|
| Người kể | Một nhân vật trong truyện, xưng “tôi” | Người kể ẩn danh, đứng ngoài truyện |
| Tầm hiểu biết | Thường hạn tri: chỉ biết điều “tôi” trải qua | Có thể toàn tri hoặc hạn tri |
| Thế mạnh | Chân thực, giàu cảm xúc, gần người đọc | Khách quan, bao quát, linh hoạt |
| Ví dụ SGK | Bài học đường đời đầu tiên, Lão Hạc | Thánh Gióng, Làng, Hai đứa trẻ |
Ngôi thứ hai (kể bằng “bạn”, “em”) hiếm gặp hơn nhiều, chủ yếu trong vài truyện thử nghiệm; đề thi phổ thông thường chỉ hỏi phân biệt ngôi một và ngôi ba.
Thực hành: bốn câu xác định ngôi kể thứ ba
Câu 1: Đoạn sau kể theo ngôi nào? “Chiều nào bà cũng ra đầu ngõ ngóng xe. Bà biết đứa cháu học xa chẳng về được, nhưng đôi chân vẫn cứ tự bước ra.”
Đáp án: Ngôi thứ ba. Người kể không xưng “tôi”, nhân vật được gọi là “bà”, và người kể biết cả điều bà nghĩ (“bà biết…”), nên đây là ngôi thứ ba, nghiêng về điểm nhìn của nhân vật bà.
Câu 2: Trong đoạn “Tôi đứng sau cánh cửa, thấy anh Nam cúi đầu đi ra. Anh ấy nghĩ gì, tôi không đoán nổi”, người kể ở ngôi nào? Vì sao dễ nhầm?
Đáp án: Ngôi thứ nhất. Dễ nhầm vì nhân vật được kể là “anh Nam”, gọi bằng tên. Nhưng người kể xưng “tôi” và không biết suy nghĩ của anh Nam, đúng giới hạn của ngôi thứ nhất.
Câu 3: Chuyển câu “Tôi run run cầm tờ giấy khen, mắt cay xè” sang ngôi thứ ba và nhận xét thay đổi.
Đáp án tham khảo: “Minh run run cầm tờ giấy khen, mắt cay xè.” Câu văn vẫn giữ cảm xúc nhưng có thêm một khoảng cách: người đọc nhìn Minh từ bên ngoài thay vì sống trong đầu nhân vật. Muốn giữ độ gần, người viết có thể thêm câu nội tâm như “Cậu không ngờ mình làm được”.
Câu 4: Vì sao truyện cổ tích và truyền thuyết hầu như đều kể bằng ngôi thứ ba toàn tri?
Đáp án: Vì đó là chuyện được dân gian truyền miệng qua nhiều đời, người kể không phải người trong cuộc. Ngôi thứ ba toàn tri cho phép kể cả những chuyện kì ảo, kể diễn biến ở nhiều nơi, và giữ giọng khách quan như lời của cộng đồng.
Ngôi kể thứ ba: những chỗ học sinh hay vướng
Kể theo ngôi thứ ba là gì, nói ngắn gọn?
Là kể chuyện khi người kể không xưng “tôi”, đứng ngoài và gọi nhân vật bằng tên hay “anh ấy”, “cô ấy”, “họ”. Người kể không tham gia vào sự việc được kể.
Tác dụng của ngôi kể thứ ba là gì?
Giúp câu chuyện khách quan hơn, người kể dễ bao quát nhiều nhân vật và không gian, linh hoạt khi miêu tả cả bên ngoài lẫn nội tâm. Khi trả lời đề, nên gắn tác dụng với một chi tiết cụ thể của văn bản.
Ngôi kể thứ ba có phải là tác giả không?
Không. Người kể là một vai do tác giả tạo ra để kể. Có truyện người kể ngôi ba lạnh lùng, có truyện lại mỉa mai hay xót thương; đó là giọng điệu nhà văn chọn, không đồng nhất với con người thật của tác giả.
Một truyện có thể vừa dùng ngôi thứ nhất vừa dùng ngôi thứ ba không?
Có. Nhiều truyện hiện đại đổi ngôi kể giữa các chương, hoặc lồng một câu chuyện “tôi” kể vào trong khung truyện ngôi ba. Khi làm bài, hãy xác định ngôi kể của đoạn trích được hỏi.