Nhận thức là việc ta nhận ra, hiểu được sự vật, sự việc quanh mình, và cũng là kết quả của quá trình đó, tức những hiểu biết ta có trong đầu. Chữ này vừa làm động từ (“nhận thức được sai lầm”) vừa làm danh từ (“nâng cao nhận thức”). Người hỏi “nhận thức nghĩa là gì” thường gặp nó trong đời sống, còn trong triết học có thêm cặp nhận thức cảm tính và lý tính.
| Nghĩa (động từ) | Nhận ra và biết được, hiểu được |
| Nghĩa (danh từ) | Kết quả của việc phản ánh thế giới vào tư duy; hiểu biết của một người về điều gì |
| Chữ Hán | 認識: nhận (biện rõ, nhận biết) + thức (biết, hiểu biết) |
| Tiếng Anh gần nghĩa | cognition, awareness, perception tùy ngữ cảnh |

Nhận thức trong từ điển: vừa là việc làm, vừa là vốn hiểu biết
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) tách hai nét. Là động từ, nhận thức là nhận ra và biết được, hiểu được, ví dụ “nhận thức được việc mình làm”, “nhận thức đúng tình hình”. Là danh từ, nó chỉ kết quả của quá trình phản ánh và tái hiện hiện thực vào tư duy, tức là những gì con người biết và hiểu về thế giới khách quan, như “nâng cao nhận thức”, “có nhận thức đúng đắn”.
Trong lời nói hằng ngày, chữ này hay đi kèm một nhận xét. Ai đó “nhận thức còn hạn chế” là chưa hiểu đủ một vấn đề; một chiến dịch “nâng cao nhận thức về an toàn giao thông” là muốn mọi người hiểu rõ hơn để làm đúng hơn. Nhận thức không phải trí thông minh bẩm sinh, nó thay đổi theo những gì ta học, đọc và trải qua.
Hiểu biết của loài người về chính quá khứ của mình là một phần lớn của vốn ấy, được gom lại trong môn lịch sử và việc ghi chép quá khứ.
Hai chữ nhận và thức trong 認識
Thiều Chửu giảng chữ nhận (認) là biện rõ, nhận biết, như nhận minh là nhận rõ ràng; nghĩa thứ hai là ừ cho, bằng lòng, có trong thừa nhận, công nhận. Chữ thức (識) là biết, phân biệt, thấy mà nhận biết được, rồi rộng ra là hiểu biết, như tri thức, kiến thức. Hai chữ cùng xoay quanh việc “biết”, ghép lại thành “biết rõ một điều”.
Vì chung chữ thức, nhận thức có họ hàng gần với ý thức, tri thức, kiến thức, học thức. Chữ nhận thì gặp lại trong nhận biết, nhận định, nhận xét.
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Trong triết học, nhận thức được xem là quá trình phản ánh thế giới vào đầu óc con người, thường chia làm hai giai đoạn. Phần này chỉ tóm lại cho dễ hình dung; ai muốn đọc rộng hơn về môn học này có thể xem nhánh nhận thức luận trong triết học.
| Nhận thức cảm tính | Nhận thức lý tính | |
|---|---|---|
| Dựa vào | Giác quan: nhìn, nghe, sờ, ngửi, nếm | Tư duy trừu tượng |
| Hình thức | Cảm giác, tri giác, biểu tượng | Khái niệm, phán đoán, suy luận |
| Thấy được | Vẻ bề ngoài, từng thuộc tính cụ thể | Bản chất, quy luật bên trong |
| Ví dụ | Thấy trời đen kịt, nghe sấm, cảm thấy gió lạnh | Hiểu vì sao có mưa, đoán chắc chiều nay sẽ mưa |
Hai giai đoạn không tách rời. Không có cảm giác, tri giác thì tư duy chẳng có gì để khái quát; chỉ dừng ở cảm giác thì ta dễ bị vẻ ngoài đánh lừa. Một đĩa trái cây bày đẹp chưa chắc ngon, phải nếm và hiểu nguồn gốc mới kết luận được.
Nhận thức, nhận biết, ý thức hay nhận thức luận?
| Từ | Nghĩa gọn | Ví dụ |
|---|---|---|
| Nhận thức | Hiểu được (động từ); vốn hiểu biết về một vấn đề (danh từ) | Em đã nhận thức được tác hại của việc thức khuya. |
| Nhận biết | Nhận ra mà biết, thường ở mức nhận dạng, phân biệt | Bé đã nhận biết được các màu cơ bản. |
| Ý thức | Sự hiểu rõ việc mình đang làm, đang nghĩ; thái độ đúng thể hiện qua hành động | Bạn ấy rất có ý thức giữ vệ sinh chung. |
| Nhận thức luận | Bộ phận triết học nghiên cứu nguồn gốc, hình thức, phương pháp và giá trị của nhận thức | Câu hỏi “làm sao biết điều mình thấy là thật” thuộc nhận thức luận. |
Nhận biết là mức đầu, nhận thức đi sâu hơn tới chỗ hiểu. Ý thức thì nghiêng về thái độ: biết rồi còn phải làm theo. Một người có thể nhận thức rằng xả rác là sai mà vẫn thiếu ý thức khi đi chơi. Trái nghĩa với nhận thức đúng là ngộ nhận, mơ hồ; còn khi cách hiểu của ta bị cảm xúc kéo lệch, xem thêm khi nào ta đang nhìn sự việc một cách chủ quan và những lối nghĩ tắt dễ khiến ta phán đoán sai.
Băn khoăn quanh chữ nhận thức
Nhận thức nghĩa là gì trong một câu?
Là hiểu ra một điều, hoặc là toàn bộ hiểu biết của ta về điều đó. “Em nhận thức được lỗi của mình” dùng nghĩa thứ nhất; “nhận thức của xã hội về môi trường đã thay đổi” dùng nghĩa thứ hai.
Nhận thức cảm tính khác nhận thức lý tính thế nào?
Cảm tính dựa trên giác quan, cho ta hình ảnh bên ngoài của sự vật. Lý tính dựa trên tư duy, đi tới khái niệm, phán đoán, suy luận để hiểu bản chất. Lý tính nảy sinh từ cảm tính, hai giai đoạn bổ sung cho nhau.
Nâng cao nhận thức là gì?
Là giúp ai đó hiểu một vấn đề đầy đủ và đúng hơn, thường qua học tập, tuyên truyền hay trải nghiệm thật. Mục tiêu cuối cùng thường là thay đổi hành động, chẳng hạn đội mũ bảo hiểm hay phân loại rác.
Nhận thức và ý thức có phải một?
Không. Nhận thức nói về việc hiểu; ý thức nhấn vào sự tỉnh táo với chính việc mình làm và thái độ thể hiện ra ngoài. Hiểu đúng mà làm chưa đúng thì người ta nói “có nhận thức nhưng thiếu ý thức”.