Lý tính là khả năng nhận thức bằng suy luận: dùng khái niệm, phán đoán và lập luận để nắm bản chất, quy luật của sự vật, thay vì dừng ở những gì mắt thấy tai nghe. Từ này cũng viết là lí tính. Hỏi lý tính nghĩa là gì trong triết học thì đó là giai đoạn cao của nhận thức; còn ngoài đời, “nhìn nhận lý tính” là xét việc bằng lý lẽ, không theo cảm xúc nhất thời.
| Nghĩa | Năng lực nhận thức bằng suy luận, khái niệm, phán đoán |
| Gốc từ | Hán Việt 理性: lý (lẽ, quy luật) + tính (bản tính, tính chất) |
| Loại từ | Danh từ; khẩu ngữ dùng như tính từ: “anh ấy rất lý tính” |
| Đặt đối với | Cảm tính |
| Tiếng Anh | reason; tính từ rational |

Lý tính nhìn thấy điều mắt không thấy
Sáng nào ta cũng thấy mặt trời nhô lên ở phía đông rồi lặn ở phía tây. Mắt bảo rằng mặt trời đi quanh mình. Phải nhờ đến suy luận, đo đạc, tính toán, con người mới biết điều ngược lại: chính Trái Đất đang tự quay. Khoảng cách giữa “thấy” và “biết” ấy là chỗ lý tính làm việc.
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học xếp lí tính là danh từ, chỉ giai đoạn cao của nhận thức, dựa vào suy luận để nắm bản chất và quy luật của sự vật, phân biệt với cảm tính; ví dụ đi kèm là cụm nhận thức lí tính. Trong sách triết học, lý tính được hiểu rộng hơn: năng lực tư duy trừu tượng của con người, thứ cho phép ta hình thành khái niệm, so sánh, rút ra kết luận về những điều không chạm tay vào được.
Giáo trình triết học ở trường đại học Việt Nam chia quá trình nhận thức làm hai nấc. Nấc đầu là cảm tính, dựa vào giác quan. Nấc sau là lý tính, đi qua ba hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lý (suy luận). Bài nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính giải thích kỹ hai nấc này cùng ví dụ.
Lý tính, lý trí, cảm tính đứng cạnh nhau
Lý tính hay bị dùng lẫn với lý trí. Hai từ gần nghĩa, đều nói về năng lực suy xét, nhưng chỗ đứng khác nhau.
| Từ | Nghĩa chính | Hay gặp ở đâu |
|---|---|---|
| Lý tính | Năng lực nhận thức bằng khái niệm, suy luận | Sách triết học, khoa học, lý luận |
| Lý trí | Sự tỉnh táo, cân nhắc đúng sai khi hành động | Lời nói hằng ngày, đặt cạnh tình cảm |
| Cảm tính | Nhận biết qua giác quan; làm theo cảm giác | Trái nghĩa trực tiếp với lý tính |
| Phi lý tính | Không theo lẽ, không giải thích được bằng suy luận | Tâm lý học, kinh tế học hành vi |
| Lý luận | Hệ thống quan điểm, tri thức đã được khái quát | Kết quả của lý tính, không phải năng lực |
Mẹo nhớ: lý trí đối với tình cảm (“nghe theo lý trí hay con tim”), còn lý tính đối với cảm tính (biết bằng suy luận hay biết bằng giác quan). Trong khẩu ngữ gần đây, người ta nói “cô ấy rất lý tính” với nghĩa gần như “rất lý trí”; cách dùng này chấp nhận được trong lời nói, nhưng văn viết thì nên chọn đúng từ. Muốn rõ thêm vế kia, xem chữ lý trí và cách dùng.
Chữ 理 và chữ 性 ghép thành lý tính
Lý (理) là lẽ, là cái trật tự bên trong sự vật; ta gặp nó trong vật lý, chân lý, hợp lý. Tính (性) là bản tính, tính chất vốn có, như trong nhân tính, cá tính, bản tính. Ghép lại, lý tính là phần trong bản tính con người biết tìm ra lẽ của sự vật.
Chữ này đi vào tiếng Việt nhiều nhất qua sách triết học phương Tây. Nhà triết học Đức Immanuel Kant có tác phẩm lớn in năm 1781, bản tiếng Việt do Bùi Văn Nam Sơn dịch mang tên Phê phán lý tính thuần túy. Ở đây, lý tính là bản dịch của chữ Vernunft trong tiếng Đức, tương ứng reason trong tiếng Anh. Ai mới làm quen với môn này có thể đọc trước khái niệm triết học cho người mới bắt đầu.
Đặt lý tính vào câu cho đúng giọng
Vì mang màu sách vở, lý tính hợp với văn nghị luận, báo chí, bài học hơn là chuyện trò. Một vài câu tham khảo:
- Muốn giải được bài toán đố này, em phải dùng đến lý tính chứ không thể đoán mò.
- Cuộc tranh luận chỉ có ích khi hai bên đưa ra lý lẽ; cãi nhau bằng cảm xúc thì thiếu hẳn lý tính.
- Nhà khoa học vượt qua những gì giác quan cho thấy, đi đến hiểu biết lý tính về quy luật tự nhiên.
- Mua sắm theo cảm tính thì vui lúc trả tiền, mua theo lý tính thì vui lâu hơn.
Lỗi hay gặp là viết “lý tính” khi ý cần là “lý trí” trong cảnh đời thường: “Cơn giận làm cậu ấy mất hết lý tính” đọc lên lủng củng, còn “mất hết lý trí” mới tự nhiên.
Lý tính ở lớp triết và ngoài đời
Nhận thức lý tính là gì?
Là giai đoạn nhận thức dựa trên tư duy trừu tượng, đi sau và dựa trên nhận thức cảm tính. Nó gồm ba hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lý, giúp con người nắm được bản chất, quy luật của sự vật.
Lý tính tiếng Anh là gì?
Danh từ thường dịch là reason; tính từ là rational. “Nhận thức lý tính” trong sách triết học có khi được dịch là rational cognition.
Người lý tính là người như thế nào?
Là người quen dựa vào dữ kiện, lý lẽ để nhận định, ít kết luận vội theo cảm giác. Điều đó không có nghĩa là họ không có cảm xúc, chỉ là họ kiểm tra cảm xúc bằng suy xét trước khi nói hay làm.
Viết lý tính hay lí tính?
Cả hai cách đều đúng. Từ điển của Viện Ngôn ngữ học đặt mục chính ở lí tính, còn lý tính là cách viết phổ biến trên sách báo; trong một bài văn chỉ nên giữ thống nhất một cách.