Nhân đạo là đạo lí thương yêu, quý trọng và che chở con người; dùng như tính từ, nó chỉ việc làm mang tinh thần ấy, như hiến máu nhân đạo, chính sách nhân đạo. Lòng nhân đạo, theo đó, là tấm lòng biết xót người khổ và muốn làm điều gì đó cho họ. Còn giá trị nhân đạo, chữ hay gặp trong giờ Văn, là tiếng nói thương người mà tác phẩm gửi tới người đọc.
| Nghĩa ngắn | Thương yêu, tôn trọng và bảo vệ con người |
| Gốc từ | Hán Việt 人道: nhân (người) + đạo (đường, lẽ phải) |
| Loại từ | Danh từ (một hành vi trái với nhân đạo) và tính từ (hiến máu nhân đạo) |
| Trái nghĩa | Vô nhân đạo, bất nhân, tàn bạo, dã man |

Nhân đạo: con đường của người
Chữ nhân (人) ở đây là người, chứ không phải chữ nhân 仁 (lòng thương) trong nhân từ, nhân ái. Chữ đạo (道) nghĩa đen là con đường, rồi được hiểu rộng ra thành lẽ phải, cách sống nên theo. Ghép lại, 人道 là “con đường làm người”, lẽ đối xử với con người cho ra con người. Trong tiếng Hán hiện đại, 人道 được dịch là humanity, humanitarianism, đúng hai lớp nghĩa mà tiếng Việt đang dùng.
Từ đó dễ hiểu vì sao người ta nói một việc là “vô nhân đạo”: nó đi chệch khỏi con đường tối thiểu mà người với người phải giữ. Chữ đạo ấy cũng là chữ đạo trong đạo làm người theo cách hiểu của người xưa.
Hai cách dùng: danh từ và tính từ
Từ điển tiếng Việt tách nhân đạo thành hai nét. Làm danh từ, nó là chính cái đạo lí ấy: sự thương yêu, quý trọng, bảo vệ con người. Làm tính từ, nó gắn vào một việc làm, một chính sách để nói rằng việc đó vì con người.
- Ngược đãi tù binh là việc làm trái với nhân đạo. (danh từ)
- Cuối tuần, đoàn trường tổ chức ngày hội hiến máu nhân đạo. (tính từ)
- Bà cụ bán hàng ở cổng bệnh viện có một tấm lòng nhân đạo hiếm thấy: suất cơm nào cho người nhà bệnh nhân nghèo bà cũng lấy nửa giá.
Chữ này còn có một chỗ đứng trang trọng hơn. Bảy nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, công bố tại Vienna năm 1965, mở đầu bằng nguyên tắc Nhân đạo: ngăn ngừa và giảm nhẹ nỗi đau của con người ở bất cứ đâu, không phân biệt người đó là ai. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam vì thế thường được gọi là một tổ chức nhân đạo.
Cũng nhân danh việc giảm nỗi đau, nhiều nước vẫn tranh cãi về quyền an tử, tức cho người bệnh nan y được chọn ra đi nhẹ nhàng dưới sự giám sát của y khoa.
Nhân đạo, nhân văn, nhân ái khác nhau ở đâu?
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Nhân đạo | Hành động thương người, cứu giúp, che chở, nhất là người gặp nạn | Cứu trợ nhân đạo cho vùng lũ |
| Nhân văn | Cái nhìn đề cao giá trị, phẩm giá, vẻ đẹp con người | Một bộ phim giàu tính nhân văn |
| Nhân ái | Tấm lòng yêu thương người, thiên về tình cảm | Cô giáo nhân ái với học trò nghèo |
| Nhân từ | Hiền hậu, hay tha thứ, không nỡ làm hại ai | Một ông lão nhân từ |
Ranh giới giữa nhân đạo và nhân văn mỏng nhất, vì cả hai đều đặt con người vào trung tâm. Một cách nhớ: nhân đạo nghiêng về việc làm cho người khổ, nhân văn nghiêng về cách nhìn và cách đánh giá con người. Phần còn lại có ở bài giải nghĩa chữ nhân văn và tính nhân văn.
Nhân bản, tình người và cặp phản nhân văn được xếp theo sắc thái trong bảng từ thay cho nhân văn.
Giá trị nhân đạo trong bài văn của học trò
Khi đề bài hỏi về giá trị nhân đạo của một tác phẩm, người chấm thường chờ bốn ý: tác giả cảm thông với nỗi khổ của con người; lên án những thế lực chà đạp họ; trân trọng vẻ đẹp, phẩm chất của họ; và nói hộ khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của họ. Không phải tác phẩm nào cũng đủ cả bốn, nhưng đây là bộ khung đáng nhớ.
Thử đặt khung ấy vào Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Vũ Nương hiền thục, chung thủy mà vẫn phải chết oan vì một câu nói ngây thơ của đứa con và lòng ghen tuông của chồng. Nhà văn xót thương nàng, chỉ ra cái chế độ nam quyền đã đẩy nàng tới bến Hoàng Giang, và cho nàng được minh oan ở đoạn kết. Các ý ấy được triển khai kĩ trong bài phân tích Vũ Nương và tấm lòng của Nguyễn Dữ.
Chủ nghĩa nhân đạo, hiểu theo nghĩa hệ tư tưởng, là cách gọi chung cho những quan điểm lấy con người, quyền và phẩm giá con người làm thước đo. Khi các nhà nghiên cứu nói văn học trung đại Việt Nam có “trào lưu nhân đạo chủ nghĩa”, họ đang nói tới những trang viết như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, thơ Hồ Xuân Hương: những trang viết về thân phận con người, nhất là người phụ nữ.
Một lỗi hay gặp khi viết: dùng “nhân đạo” để khen một nhân vật (“Vũ Nương là người nhân đạo”). Nhân đạo là thứ thuộc về cái nhìn của tác giả và tác phẩm; còn nhân vật thì nên khen bằng chữ khác như hiền hậu, nhân hậu, giàu lòng thương người.
Đi cặp với giá trị nhân đạo trong đề văn thường là giá trị hiện thực, tức bức tranh đời sống mà tác phẩm phản ánh, được phân tích qua Lão Hạc và Chí Phèo.
Ba chỗ hay gặp chữ nhân đạo
Lòng nhân đạo là gì?
Là tấm lòng biết xót thương người gặp khổ và sẵn lòng giúp họ mà không tính toán thiệt hơn. Người có lòng nhân đạo thường không đứng ngoài khi thấy người khác gặp nạn.
Giá trị nhân đạo là gì?
Là giá trị tư tưởng của một tác phẩm văn học khi nó thể hiện tình yêu thương con người: cảm thông nỗi khổ, tố cáo cái ác, ngợi ca phẩm chất tốt đẹp và bênh vực khát vọng chính đáng của con người.
Nhân đạo tiếng Anh là gì?
Thường dịch là humanitarian (cứu trợ nhân đạo: humanitarian aid) hoặc humane khi nói về cách đối xử. Danh từ hay dùng là humanity; chủ nghĩa nhân đạo có lúc được dịch là humanitarianism, có lúc là humanism.
Vô nhân đạo nghĩa là gì?
Là trái hẳn với đạo lí làm người: tàn nhẫn, coi rẻ mạng sống và nỗi đau của người khác. Ví dụ: hành hạ động vật hay bỏ đói tù nhân là những việc làm vô nhân đạo.