An tử là việc chủ động chấm dứt sự sống của một người mắc bệnh không thể chữa khỏi, theo chính mong muốn của người đó, với mục đích chấm dứt đau đớn kéo dài. Từ này dịch từ tiếng Anh euthanasia; nghĩa đen của chữ Hán là “cái chết yên ổn”. Tìm hiểu an tử nghĩa là gì cũng là bước vào một trong những tranh luận khó nhất của y học và đạo đức.
| Nghĩa | Kết thúc sự sống của người bệnh nan y theo yêu cầu của họ, để chấm dứt đau đớn |
| Chữ Hán | 安死 (an: yên ổn; tử: chết) |
| Tiếng Anh | euthanasia |
| Ở Việt Nam | Pháp luật chưa công nhận, chưa cho phép |

An tử, “cái chết êm” nghĩa là gì?
Từ điển mở giải nghĩa an tử gọn trong mấy chữ: cái chết không đau đớn. Chữ an ở đây là chữ an trong bình an, an nhiên; chữ tử là chết. Từ tiếng Anh euthanasia cũng có cấu tạo tương tự, ghép từ hai gốc Hy Lạp: eu (tốt, dễ chịu) và thanatos (cái chết).
Nghĩa từ nguyên thì êm, nhưng nghĩa đang dùng hẹp và nặng hơn nhiều. Khi báo chí hay giới luật học nói “an tử”, họ chỉ một hành động có chủ đích, diễn ra trong bối cảnh y tế, theo yêu cầu của chính người bệnh. Một người già qua đời thanh thản trong giấc ngủ không được gọi là an tử.
Gần với an tử còn có trợ tử: người khác chỉ hỗ trợ, còn quyết định cuối cùng do người bệnh tự thực hiện. Cả hai thường được nhắc chung dưới cụm “quyền được chết”.
Khi nào người ta nhắc đến an tử?
Khái niệm này gần như chỉ xuất hiện trong một tình huống: người bệnh ở giai đoạn cuối của bệnh nan y, đau đớn về thể xác hoặc tinh thần đến mức không thể chịu nổi, các biện pháp giảm đau không còn hiệu quả, và chính họ, khi còn tỉnh táo, nhiều lần bày tỏ mong muốn dừng lại.
Những nước cho phép an tử đều đặt điều kiện rất chặt quanh tình huống ấy: người bệnh phải đủ năng lực tự quyết, yêu cầu phải tự nguyện và rõ ràng, phải có ý kiến của bác sĩ độc lập. Trong các bài nghiên cứu luật, người ta còn chia hai dạng:
- An tử thụ động: theo ý nguyện của người bệnh, ngừng các biện pháp điều trị chỉ còn tác dụng kéo dài sự sống.
- An tử chủ động: có sự can thiệp trực tiếp để kết thúc sự sống.
Ngoài phòng bệnh, chữ này xuất hiện trong bài báo pháp luật, trong đề nghị luận, và đôi khi trong tiểu thuyết, phim ảnh lấy đề tài bệnh tật.
Vì sao an tử luôn gây tranh cãi?
Hai phía tranh luận đều xuất phát từ sự tôn trọng con người, chỉ khác nhau ở chỗ đặt điều gì lên trước.
Phía ủng hộ cho rằng mỗi người có quyền quyết định về thân thể mình, và kéo dài sự sống trong đau đớn vô vọng chưa chắc đã là nhân đạo.
Phía phản đối lo ngại nhiều điều: sinh mạng là giá trị không thể đánh đổi; người già, người nghèo, người khuyết tật có thể chịu áp lực ngầm vì sợ thành gánh nặng; chẩn đoán y khoa có lúc sai; và nghề y vốn được hiểu là để cứu chữa. Ở nhiều nền văn hóa, trong đó có Việt Nam, quan niệm “sống chết có số” và chữ hiếu với cha mẹ khiến việc chủ động chọn cái chết càng khó được chấp nhận.
Ở Việt Nam, chuyện này từng được đưa ra bàn khi Quốc hội khóa XI soạn thảo Bộ luật Dân sự (2004–2005), nhưng không đủ ý kiến ủng hộ; đa số cho rằng vấn đề còn mới, nhạy cảm, chưa phù hợp văn hóa và đạo lý. Quan điểm đó được giữ nguyên khi sửa Hiến pháp năm 2013 và thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015. Đến nay pháp luật Việt Nam chưa công nhận quyền an tử. Trên thế giới, một số nước như Hà Lan, Bỉ cho phép với điều kiện rất nghiêm ngặt, còn phần lớn các nước khác thì không.
An tử khác chăm sóc giảm nhẹ ra sao?
Hai khái niệm này hay bị đặt cạnh nhau, nhưng đi theo hai hướng ngược nhau.
| Tiêu chí | An tử | Chăm sóc giảm nhẹ |
|---|---|---|
| Mục đích | Chấm dứt sự sống để chấm dứt đau đớn | Giảm đau, giảm khổ, giữ chất lượng sống những ngày còn lại |
| Thời điểm qua đời | Được chủ động đưa tới sớm hơn | Không làm sớm hơn, cũng không cố kéo dài |
| Ở Việt Nam | Chưa được pháp luật cho phép | Là một phần bình thường của chăm sóc y tế |
| Người tham gia | Người bệnh, bác sĩ, cơ quan pháp lý (ở nước cho phép) | Bác sĩ, điều dưỡng, gia đình, nhà tâm lý |
Chăm sóc giảm nhẹ chăm cả nỗi sợ, nỗi buồn của người bệnh và người nhà, chứ không chỉ cơn đau thể xác. Nếu bạn hoặc người thân đang tuyệt vọng vì bệnh tật, hãy nói thật điều đó với bác sĩ điều trị và những người thân bên cạnh; việc giảm đau và nâng đỡ tinh thần thường còn nhiều cách hơn ta nghĩ. Khi có tình huống khẩn cấp, gọi ngay 115.
Bàn về an tử trong bài nghị luận
Đề nghị luận xã hội đôi khi chạm tới chủ đề này qua câu hỏi về quyền được sống, quyền tự quyết hay giá trị sinh mạng. Cách làm an toàn là trình bày công bằng cả hai phía, dẫn chứng bằng lập luận thay vì kể chuyện đau lòng, và kết lại ở điều cả hai phía cùng thừa nhận: người bệnh cần được lắng nghe và không bị bỏ lại một mình. Ý ấy gần với lòng xót thương trước nỗi đau của người khác và với tinh thần nhân văn trong cách nhìn con người.
Một lỗi dùng từ nên tránh: đừng viết “cụ được an tử” khi chỉ muốn nói cụ ra đi nhẹ nhàng. Câu đó vô tình biến một cái chết tự nhiên thành một quyết định y khoa; cách nói đúng là “cụ ra đi thanh thản”.
An tử trước pháp luật và trong lời ăn tiếng nói
An tử có hợp pháp ở Việt Nam không?
Không. Pháp luật Việt Nam hiện chưa công nhận quyền an tử. Vấn đề từng được thảo luận khi soạn Bộ luật Dân sự nhưng không được đưa vào luật.
Quyền an tử là gì?
Là quyền được lựa chọn kết thúc sự sống khi mắc bệnh nan y, đau đớn kéo dài mà không còn cách chữa, thường gọi chung là “quyền được chết”. Chỉ một số ít nước công nhận quyền này, kèm điều kiện rất chặt.
An tử tiếng Anh là gì?
Là euthanasia, ghép từ hai gốc Hy Lạp có nghĩa “cái chết tốt”. Còn trợ tử thường được gọi là assisted dying.
An tử và trợ tử khác nhau thế nào?
Với an tử, người khác (thường là bác sĩ) trực tiếp thực hiện theo yêu cầu của người bệnh. Với trợ tử, người khác chỉ hỗ trợ, còn bước cuối do người bệnh tự làm. Cả hai đều chưa được phép ở Việt Nam.