Đạo là từ nhiều nghĩa. Nghĩa gốc của chữ Hán 道 là con đường; từ đó “đạo” chỉ lẽ phải, nguyên tắc sống mà con người phải giữ (đạo làm con, đạo vợ chồng), một học thuyết hay một tôn giáo (đạo Phật, đạo Thiên Chúa). Còn trong “đạo văn”, “đạo nhạc”, đạo là động từ: lấy sáng tác của người khác làm của mình, gốc từ chữ 盜 nghĩa là trộm.
| Nghĩa thường gặp | Lẽ phải, nguyên tắc sống; học thuyết; tôn giáo; lấy cắp sáng tác (đạo văn) |
| Chữ Hán | 道 (con đường, lẽ) · 盜 (trộm) · 導 (dẫn dắt, trong lãnh đạo, chỉ đạo) |
| Loại từ | Danh từ (đạo hiếu, đạo Phật); động từ (đạo văn, bị đạo ý tưởng) |
| Nghĩa cũ | Đơn vị hành chính, cánh quân, văn kiện của nhà nước (một đạo sắc, chia quân làm hai đạo) |

Chữ đạo: từ con đường đến lẽ làm người
Muốn hiểu chữ đạo, hãy bắt đầu từ mặt đất. Trong chữ Hán, 道 trước hết là con đường để đi: thiết đạo là đường sắt, xích đạo là đường tưởng tượng chạy ngang giữa Trái Đất, quỹ đạo là đường chuyển động của một vật. Người xưa mượn hình ảnh ấy để nói về cách sống: đã là người thì phải đi theo một lối nhất định, đi trệch là sai.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học ghi lại mấy lớp nghĩa danh từ của đạo:
- Đường lối, nguyên tắc sống mà con người có bổn phận giữ, thường theo quan niệm cũ: đạo làm con, đạo thầy trò, đạo vợ chồng.
- Học thuyết được tôn sùng: đạo thánh hiền; thành ngữ tầm sư học đạo là đi tìm thầy để học điều hay lẽ phải.
- Tôn giáo: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi. Trong khẩu ngữ, nhiều vùng nói “nhà có đạo”, “theo đạo” là để chỉ người Công giáo.
- Nghĩa cũ: đơn vị hành chính như tỉnh, một cánh quân lớn (chia quân làm hai đạo), một văn kiện của nhà nước (một đạo sắc). Từ đạo luật ngày nay còn giữ dấu vết nghĩa này.
Ngoài các nghĩa danh từ, từ điển ghi thêm một động từ: đạo là lấy sáng tác của người khác làm thành của mình, như đạo văn, đạo thơ, đạo nhạc.
道 và 盜: hai chữ Hán cùng đọc là đạo
Đạo trong “đạo lý” và đạo trong “đạo văn” nghe giống hệt nhau nhưng là hai chữ khác hẳn. Chữ 道 gồm bộ 辶 (bước đi) ghép với chữ 首 (cái đầu): người đi đường, đầu hướng về một phía. Họ hàng của nó có đạo đức, đạo lý, nhân đạo, đạo hiếu, hướng đạo.
Chữ 盜 thì nghĩa là kẻ trộm, việc ăn trộm. Từ cùng gốc có đạo tặc (trộm cướp), cường đạo (kẻ cướp dùng sức mạnh), đạo chích (kẻ cắp, vốn là tên một tên trộm nổi tiếng trong sách cổ Trung Hoa). Đạo văn 盜文 nghĩa đen là trộm văn. Giới trẻ bây giờ nói “bị đạo ý tưởng”, “đạo nhái thiết kế” cũng là chữ đạo này, chứ không dính gì tới đạo đức.
Còn một chữ thứ ba hay bị lẫn: 導 nghĩa là dẫn dắt, có trong lãnh đạo, chỉ đạo, giáo đạo. Cách chữ này ghép với chữ lãnh được giải thích ở bài người đứng đầu dẫn dắt một tập thể.
Chữ đạo trong Luận ngữ, ca dao và Truyện Kiều
Khổng Tử từng nói: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ” (朝聞道,夕死可矣), nghĩa là sáng được nghe đạo, chiều chết cũng cam lòng. Đạo ở đây là chân lý, lẽ phải lớn của đời người. Câu nói đặt việc hiểu lẽ phải lên trên cả mạng sống.
Ca dao Việt Nam đưa chữ đạo về gần nhà hơn:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
“Đạo con” là bổn phận của người làm con, không cần sách vở cao xa. Cùng một lối nghĩ ấy, ông bà ta còn nhiều câu khác, gom ở trang ca dao nói về công cha nghĩa mẹ.
Trong Truyện Kiều, đoạn đoàn viên, Kim Trọng thuyết phục Kiều bằng hai câu: “Xưa nay trong đạo đàn bà, / Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.” Đạo đàn bà là khuôn phép xã hội cũ đặt ra cho người phụ nữ. Kim Trọng cho rằng Kiều “lấy hiếu làm trinh”, bán mình chuộc cha thì tấm lòng vẫn trong, tức là chính khuôn phép ấy cũng phải mềm đi trước hoàn cảnh.
Đạo, đạo lý, đạo đức và chuyện bị đạo
| Từ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đạo | Lẽ phải, bổn phận nói chung; hoặc một tôn giáo | giữ tròn đạo làm trò |
| Đạo lý | Những lẽ phải cụ thể, điều nên làm đã được nhiều người thừa nhận | uống nước nhớ nguồn là đạo lý của dân tộc |
| Đạo đức | Chuẩn mực ứng xử đã thành phẩm chất của một người | người có đạo đức |
| Đạo (động từ) | Lấy sáng tác của người khác làm của mình | bài dự thi bị phát hiện đạo văn |
Ba dòng đầu gần nghĩa nhau, khác nhau ở độ rộng: đạo là con đường chung, đạo lý là từng điều cụ thể trên con đường ấy, đạo đức là khi những điều đó đã thấm vào một con người. Muốn đi sâu hơn chữ thứ ba, đọc bài chữ đạo đức và chỗ khác pháp luật. Trái nghĩa với đạo theo nghĩa lẽ phải là vô đạo, bất nhân, trái đạo. Trái nghĩa với đạo văn là sáng tác, tự viết; còn trích dẫn có ghi nguồn thì không phải đạo.
Một chữ đạo nữa đang sống rất khỏe trên mạng là bá đạo. Thiều Chửu giảng bá đạo vốn là lối cai trị dựa vào sức mạnh, đặt đối lập với vương đạo dựa vào nhân nghĩa. Qua miệng người trẻ, “bá đạo” thành lời khen một màn trình diễn ngông và đỉnh, kiểu “pha xử lý bá đạo”. Chữ đạo đi một vòng xa như thế mà gốc vẫn là con đường: lối đi của kẻ mạnh.
Ở những vùng có nhiều giáo dân, chữ đạo còn đối với chữ lương: người theo đạo là bên giáo, người không theo là bên lương.
Đạo trong đạo Phật, đạo văn và bá đạo
Chữ đạo là gì trong tiếng Hán?
Chữ 道 nghĩa gốc là con đường, sau mở rộng thành phương pháp, lẽ phải, chân lý và học thuyết. Trong triết học Lão Tử, Đạo còn là cái gốc sinh ra trời đất muôn vật.
Đạo văn là gì?
Là lấy bài viết, ý tưởng của người khác rồi nhận là của mình, không ghi nguồn. Chữ đạo ở đây là 盜 (trộm), cùng gốc với đạo tặc.
Theo đạo là gì?
Là theo một tôn giáo nào đó, như theo đạo Phật, theo đạo Thiên Chúa. Ở nhiều vùng, nói “theo đạo” mà không nêu tên thì người nghe hiểu là theo Công giáo.
Đạo trong đạo đức và đạo trong đạo văn có giống nhau không?
Không. Đạo đức dùng chữ 道 (con đường, lẽ phải), còn đạo văn dùng chữ 盜 (trộm). Hai chữ chỉ trùng âm đọc Hán Việt.