Nhân văn là những gì thuộc về con người và văn hóa của con người; khi khen một việc làm, một tác phẩm “rất nhân văn”, ta muốn nói nó coi trọng con người, thương người và đề cao phẩm giá con người. Từ điển ghi từ này là tính từ, gần nghĩa với nhân bản. Câu hỏi “tính nhân văn là gì” hay “giá trị nhân văn là gì” đều xoay quanh nét nghĩa thứ hai này.
| Nghĩa ngắn | Thuộc về văn hóa, thuộc về con người; coi con người là trung tâm và đáng được trân trọng |
| Gốc từ | Hán Việt 人文: nhân (người) + văn (vẻ đẹp do giáo hóa, văn hóa) |
| Loại từ | Tính từ; “tính nhân văn”, “giá trị nhân văn” là cách dùng như danh từ |
| Gần nghĩa | Nhân bản, nhân đạo, nhân ái |

Hai lớp nghĩa của chữ nhân văn trong tiếng Việt
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê giảng nhân văn là “thuộc về văn hoá, thuộc về con người”, và ghi thêm một cách dùng: nói tắt của nhân văn chủ nghĩa. Hai dòng ấy ứng với hai lớp nghĩa mà ta gặp hằng ngày.
- Lớp nghĩa phân loại, trung tính: thuộc về con người, về văn hóa. Đây là nghĩa trong khoa học nhân văn, khoa học xã hội và nhân văn, giá trị văn hóa nhân văn. Nói “ngành nhân văn” không phải để khen, chỉ để xếp loại: văn học, sử học, triết học, ngôn ngữ học thuộc nhóm này.
- Lớp nghĩa đánh giá, mang ý khen: coi trọng con người, thương người, đứng về phía con người. Ví dụ: một quyết định rất nhân văn, cách đối xử thiếu nhân văn, tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc.
Lớp nghĩa thứ hai ngày càng phổ biến trên báo chí và mạng xã hội. Một bệnh viện cho người nhà bệnh nhân nghèo ở lại miễn phí, một trường học cho học sinh mồ côi miễn học phí, người ta đều gọi là “nhân văn”. Dùng nhiều quá thì chữ cũng nhạt đi, nên khi viết văn, hãy kèm lí do vì sao việc ấy đáng gọi như thế.
Trên mạng, chữ này còn được dùng vui trong meme nhân văn quay xe, kiểu ảnh mở đầu như một trò đùa rồi bất ngờ quay xe sang lời nhắn cảm động về mẹ hay ông bà.
人文 từ quẻ Bí trong Kinh Dịch
Chữ nhân (人) là người. Chữ văn (文) xưa có nghĩa là đường vân, vẻ đẹp đan xen; Thiều Chửu giảng một nét nghĩa của nó là vẻ đẹp rõ rệt mà đạo đức, lễ nhạc, giáo hóa tạo ra, như trong văn minh, văn hóa. Vậy nhân văn, hiểu theo chữ, là cái vẻ đẹp riêng của đời sống con người.
Cặp chữ này xuất hiện từ rất sớm, trong lời bình quẻ Bí của Kinh Dịch. Sách đặt thiên văn (vẻ của trời: mặt trời, sao, bốn mùa) cạnh nhân văn (vẻ của người: lễ nghĩa, thi thư) và viết rằng xem thiên văn để biết thời tiết đổi thay, xem nhân văn để giáo hóa thiên hạ. Câu gốc phiên âm là “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ”. Từ đó, nhân văn mang nghĩa văn hóa, phong tục của con người, đối lại với tự nhiên.
Sang thời hiện đại, chữ này được dùng để dịch humanism (chủ nghĩa nhân văn) và humanities (các ngành nhân văn). Chủ nghĩa nhân văn là dòng tư tưởng đề cao giá trị và phẩm giá con người, nổi bật nhất ở châu Âu thời Phục hưng. Lớp nghĩa “coi trọng con người” mà người Việt dùng hôm nay phần lớn đến từ đây.
Nhân văn, nhân đạo, nhân ái: ba chữ nhân dễ lẫn
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Nhân văn | Coi con người, văn hóa của con người là giá trị; rộng, thiên về tư tưởng | Tư tưởng nhân văn của một bộ phim |
| Nhân đạo | Đạo đức thể hiện ở tình thương và sự tôn trọng phẩm giá con người; thiên về hành động cụ thể | Hoạt động nhân đạo, cứu trợ nhân đạo |
| Nhân ái | Lòng thương yêu người | Một tấm lòng nhân ái |
| Nhân bản | Lấy con người làm gốc; đồng nghĩa với nhân văn theo nghĩa thứ hai | Nền giáo dục nhân bản |
| Vô nhân đạo, tàn nhẫn | Chà đạp con người | Trái nghĩa |
Trong giờ Văn, “giá trị nhân đạo” và “giá trị nhân văn” thường được dùng gần như thay nhau. Nếu muốn tách, có thể hiểu nhân đạo nghiêng về lòng thương, sự cảm thông với số phận con người; nhân văn rộng hơn, bao gồm cả niềm tin vào vẻ đẹp, khả năng vươn lên của con người. Lòng nhân ái là gốc tình cảm của cả hai, đã được bàn kĩ trong bài tình yêu thương và lòng nhân ái.
Ai cần chữ thay cho nhân văn để đoạn nghị luận đỡ nặng, cùng các từ đứng phía ngược lại, có thể xem đồng nghĩa, trái nghĩa với nhân văn.
Đi tìm tính nhân văn trong một tác phẩm văn học
Đề văn hay hỏi “giá trị nhân văn của tác phẩm”. Có thể soi vào ba điểm: tác giả thương ai, trân trọng điều gì ở con người, và tin vào điều gì. Vợ nhặt của Kim Lân là ví dụ rõ. Giữa nạn đói năm 1945, Tràng “nhặt” được vợ chỉ sau mấy câu nói đùa và bốn bát bánh đúc. Nhà văn không chế giễu cảnh ấy. Ông cho thấy ngay bên bờ cái chết, con người vẫn khao khát một mái ấm, bà cụ Tứ vẫn nén nỗi lo để vun vén cho con, cả nhà vẫn nghĩ tới ngày mai.
Tính nhân văn của truyện nằm ở chỗ ấy: nhìn người nghèo bằng con mắt trân trọng, tin rằng tình thương giữ con người đứng vững. Các đề phân tích chi tiết có ở bài phân tích truyện ngắn của Kim Lân về nạn đói 1945. Cách đọc ba câu hỏi trên dùng được cho nhiều truyện khác: Lão Hạc, Chiếc lá cuối cùng, Chuyện người con gái Nam Xương.
Những điều học trò hay hỏi về chữ nhân văn
Tính nhân văn là gì?
Là phẩm chất coi trọng con người: biết cảm thông, tôn trọng phẩm giá và quyền được sống tốt của người khác. Một hành động, một chính sách, một tác phẩm có tính nhân văn khi nó đặt con người, nhất là người yếu thế, vào trung tâm.
Giá trị nhân văn của tác phẩm là gì?
Là những điều tốt đẹp về con người mà tác phẩm khẳng định: tình thương, khát vọng sống, phẩm giá. Khi phân tích, hãy chỉ ra tác giả cảm thông với ai, ngợi ca điều gì và lên án điều gì.
Khoa học xã hội và nhân văn gồm những ngành nào?
Phần nhân văn thường gồm văn học, ngôn ngữ học, sử học, triết học, nghệ thuật học, tức các ngành nghiên cứu con người qua văn hóa và sáng tạo của họ. Phần xã hội gồm xã hội học, kinh tế học, tâm lí học và một số ngành khác.
Nhân văn tiếng Anh là gì?
Tùy nghĩa. “Khoa học nhân văn” là humanities, “chủ nghĩa nhân văn” là humanism, còn tính từ “nhân văn” theo nghĩa thương người thường dịch là humane hoặc humanistic.