Năm 1969, chính ông tự nhận mình đã “bắt đầu điên rực rỡ”, và từ đó người Sài Gòn dần quen với hình ảnh một thi sĩ tóc rối, áo quần xộc xệch lang thang khắp phố. Bùi Giáng (1926 – 1998) là nhà thơ, dịch giả và nhà khảo cứu văn học của miền Nam trước 1975, tác giả các tập thơ Mưa nguồn, Lá hoa cồn, người dịch Hoàng tử bé và viết sách giới thiệu Martin Heidegger. Ông còn ký nhiều biệt hiệu như Trung niên thi sĩ hay Đười ươi thi sĩ.
Sáu Giáng, người họ Bùi ở Duy Xuyên

| Tên | Bùi Giáng; vào Nam thường được gọi là Sáu Giáng |
| Biệt hiệu tự xưng | Trung niên thi sĩ, Đười ươi thi sĩ (và nhiều tên đùa khác) |
| Năm sinh – năm mất | 17/12/1926 – 7/10/1998 (mất tại TP Hồ Chí Minh) |
| Quê quán | Sinh ở làng Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; họ Bùi gốc làng Vĩnh Trinh cùng huyện |
| Gia đình | Cha Bùi Thuyên (thường gọi Cửu Tý), mẹ Huỳnh Thị Kiền |
| Thể loại | Thơ (nhiều nhất là lục bát), khảo luận, giảng luận văn học, dịch thuật, tùy bút |
| Tác phẩm tiêu biểu | Mưa nguồn (1962), Lá hoa cồn (1963), Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại (1963), bản dịch Hoàng tử bé, Cõi người ta |
| Trong SGK | Không có văn bản trong sách Ngữ văn hiện hành |
Họ Bùi ở Vĩnh Trinh là một dòng họ lớn của xứ Quảng, theo gia phả thì tổ tiên từ Nghệ An vào lập nghiệp cuối thế kỷ XV. Cha ông thuộc đời thứ 16, ông là đời thứ 17; nếu tính chung các anh chị em cùng cha thì ông là con thứ năm.
Về nơi sinh, tiểu sử do Bùi tộc Vĩnh Trinh công bố năm 2013 (báo Thanh Niên đăng lại) ghi làng Thanh Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên. Một bài trên báo Quảng Nam tách rõ hơn: quê gốc là làng Vĩnh Trinh, còn nơi ông ra đời là làng Thanh Châu.
Thi sĩ chăn dê ở Trung Phước
Thời đi học, Bùi Giáng theo học ở Hội An, Điện Bàn, Quy Nhơn rồi ra Huế, đỗ bằng Thành chung. Ông lấy vợ khi mới mười tám, mười chín tuổi; người vợ là bà Phạm Thị Ninh, được tả là một hoa khôi trong vùng, mất rất sớm, khoảng năm 1948. Vài bài viết nói bà mất khi đang mang thai, nhưng chi tiết này chỉ thấy ở một nguồn.
Kháng chiến chống Pháp, ông được cử ra Hà Tĩnh học tiếp bậc tú tài. Đi bộ ra tới nơi, ông bỏ học quay về vùng núi Trung Phước của xứ Quảng. Nhiều tài liệu viết ông về “chăn bò”; lời kể của người em trai và người em rể in trong sách Bùi Giáng trong cõi người ta lại cho biết ông tự mua một đàn dê khoảng trăm con và chăn chừng ba năm. Nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương cũng kể chuyện bầy dê được ông choàng hoa, đặt tên cho từng con.
Về sau, Bùi Giáng hay nói mình chăn dê mười lăm năm, như Tô Vũ chăn dê ở đất Hồ. Người nhà thì bảo đó là ông tự bịa cho đẹp chuyện.
Sài Gòn 1952 và cơn lũ chữ 1962–1963
Năm 1952, Bùi Giáng vào Sài Gòn. Ông dạy học ở các trường tư, và theo Wikipedia thì có ghi danh vào Đại học Văn khoa nhưng bỏ ngang. Những cuốn sách đầu tiên của ông không phải thơ mà là sách giảng văn cho học sinh, in khoảng 1957–1959: bàn về thơ Bà Huyện Thanh Quan, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Truyện Kiều và Phan Trần. Một số trang gọi đó là “sách giáo khoa”, thật ra là sách học tốt dùng ở trường miền Nam thời ấy.
Rồi từ 1962, sách của ông ra liên tục, phần lớn do nhà An Tiêm in. Mưa nguồn ra năm 1962; năm sau là một loạt tập thơ khác. Bảng dưới đây ghi năm theo Wikipedia tiếng Việt; hai tập đầu được nhiều nguồn khác xác nhận.
| Tập thơ | Năm in | Ghi chú |
|---|---|---|
| Mưa nguồn | 1962 | Tập đầu tay, có bài Mắt buồn |
| Lá hoa cồn | 1963 | Cùng năm với các tập dưới |
| Màu hoa trên ngàn, Ngàn thu rớt hột, Bài ca quần đảo, Sa mạc trường ca | 1963 | Đợt in dồn dập nhất |
| Sa mạc phát tiết | 1969 | Năm ông tự xưng “điên rực rỡ” |
| Mưa nguồn hòa âm | 1973 | |
| Mùi hương xuân sắc, Thơ Bùi Giáng, Rong rêu, Bèo mây bờ bến, Đêm ngắm trăng, Như sương | 1987–1998 | Các tập in sau 1975 |
| Mười hai con mắt, Thơ vô tận vui, Mùa màng tháng tư | 2001–2007 | In sau khi ông mất |
Bài Mắt buồn trong Mưa nguồn là gốc của ca khúc Con mắt còn lại mà Trịnh Công Sơn phổ từ ý thơ ông. Tập thơ in năm 1969 là Sa mạc phát tiết; còn “Bắt đầu điên rực rỡ” là lời ông tự nói về mình, không phải tên một tập thơ.
Người đưa Heidegger, Saint-Exupéry và Hamlet về tiếng Việt
Phần việc khiến giới nghiên cứu nể Bùi Giáng nhất có lẽ là dịch thuật và triết học. Năm 1963, ông in Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại, một trong những sách tiếng Việt đầu tiên bàn về triết gia Đức này, viết theo lối nửa khảo luận nửa thơ. Theo Huỳnh Như Phương, ngoại ngữ của ông phần lớn do tự học.
- Antoine de Saint-Exupéry: Hoàng tử bé (in ở Sài Gòn trước 1975; Wikipedia ghi 1973, nhưng có người kể đã thấy ông cầm bản in đi bán từ năm 1972) và Cõi người ta (1966).
- André Gide: Khung cửa hẹp, Hòa âm điền dã.
- Albert Camus: vở kịch Ngộ nhận.
- Shakespeare: Hamlet.
- Ông dịch cả truyện kiếm hiệp, như Kim kiếm điêu linh của Ngọa Long Sinh.
Ông cũng vẽ; VnExpress từng giới thiệu bức sơn dầu ông vẽ năm 1963, in kèm cuốn sách về Heidegger.
Cháy nhà, nhà thương Biên Hòa và lời tự xưng “điên rực rỡ”
Chuyện này thường được kể gọn: năm 1965 nhà cháy, mất bản thảo, ông sốc nặng và vào viện dưỡng trí Biên Hòa. Câu chuyện thật rối hơn. Vụ cháy có thật, Wikipedia ghi năm 1965, còn trong băng ghi âm báo Thanh Niên công bố năm 2013, chính ông nói là những năm đầu thập niên 1960, ngôi nhà trên đường Phan Thanh Giản cháy cùng bản thảo công trình về Truyện Kiều ông làm ba năm. Sau đó ông buồn, bỏ đi lang thang các tỉnh miền Tây. Lần bị đưa vào nhà thương Biên Hòa, theo lời ông, là sau khi ném đá vỡ kính xe của một chủ nhà xuất bản, và người em ruột đã chở thẳng ông vào đó. Không có nguồn nào ghi rõ năm.
Tại tọa đàm về ông năm 2013, Huỳnh Như Phương nhắc rằng bệnh án ghi ông mắc chứng tâm thần phân liệt “dạng sáng tạo chữ”. Ông thì không giấu bệnh, lại còn biến nó thành một danh xưng: “điên rực rỡ”. Những năm 1970 và sau 1975, ông sống nhờ nhà người thân ở Sài Gòn và đi lang thang khắp phố; theo loạt bài của báo Thanh Niên, những năm cuối ông ở nhờ một con hẻm đường Lê Quang Định, quận Bình Thạnh. Về những trang viết mang dấu ấn trạng thái ấy, có thể đọc thêm bài nghiên cứu thơ tâm thần phân lập của Bùi Giáng của Nguyễn Văn Thuấn.
Còn danh hiệu “nhà thơ điên của thế kỷ XX”, vẫn hay được gắn với tên ông, thì chưa tìm thấy xuất xứ. Mai Thảo từng gọi ông là kẻ sĩ điên của một thế kỷ mù, T. Khuê nói tới một mẫu ngông thời đại, nhưng đó là những cách nói riêng chứ không phải một danh xưng được thừa nhận.
Những “mẫu thân”: Kim Cương, ni sư Trí Hải và hai minh tinh
Bùi Giáng có thói quen tôn những người phụ nữ ông kính yêu lên làm “mẫu thân”. Người nổi tiếng nhất là nghệ sĩ Kim Cương. Trong hồi ký đăng trên Tuổi Trẻ năm 2016, bà kể ông si mê bà nhiều năm liền, hay đứng trước cổng nhà bà trên đường Hoàng Diệu; mỗi lần bị giữ lại ở đồn hay bệnh viện, ông chỉ đọc ra tên và địa chỉ nhà Kim Cương, và bà phải đi lãnh ông về.
Một “mẫu thân” khác là ni sư Trí Hải (thế danh Phùng Khánh), người trong giới Phật học ở Sài Gòn mà ông nhắc nhiều trong thơ. Ông còn viết thơ tặng Marilyn Monroe, Brigitte Bardot như viết cho người quen, choàng cho các minh tinh phương Tây chiếc áo của thơ Nôm.
Quanh ông có vô số giai thoại, phần lớn truyền miệng. Ngay những người thân với ông cũng lưu ý rằng có nhiều chuyện được thêu dệt để người kể tỏ ra gần gũi thi sĩ. Bài này chỉ giữ những chuyện có ít nhất hai nguồn độc lập hoặc nêu rõ người kể.
Lục bát của một hiền giả lang thang
Thơ Bùi Giáng nhiều nhất là lục bát, trộn ca dao, Kiều với chữ Hán Việt, tiếng Pháp và những từ ông tự đặt; có câu trong sáng như đồng dao, có câu cố ý ngớ ngẩn, đùa cợt. Người đọc yêu ông vì cái giọng vừa quê kệch vừa uyên bác ấy, và cũng vì cách ông xem thơ như chuyện chơi; người quen kể hiếm ai thấy ông ngồi viết mà sách thì cứ ra đều. Ai muốn đọc trực tiếp có thể xem tuyển chọn những bài thơ hay của Bùi Giáng, hoặc so với cách các nhà thơ khác dùng thể thơ lục bát.
Trong tọa đàm về ông tại Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh tháng 9/2013, Huỳnh Như Phương ví Bùi Giáng là “thứ quả mà cây văn chương chỉ kết được một lần”. Ông viết tiếp: “Sách vở giúp Bùi Giáng trở thành trí giả; cuộc đời và số phận biến ông thành hiền giả”.
Một câu khác hay được truyền tụng, đại ý viết về Bùi Giáng không bằng đọc ông, đọc không bằng giao du, giao du không bằng sống như ông. VnExpress và Tuổi Trẻ dẫn đó là lời nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, người cùng họ với thi sĩ; có tài liệu lại gán cho nhà văn Sơn Nam.
Gò Dưa và những trang di cảo
Bùi Giáng mất ngày 7/10/1998 tại TP Hồ Chí Minh, ở tuổi 71, được an táng ở nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức. Theo Wikipedia, ông mất ở bệnh viện Chợ Rẫy sau một cơn tai biến mạch máu não.
Sau khi ông mất, các bản thảo vẫn tiếp tục được in thành sách: Mười hai con mắt (2001), Thơ vô tận vui (2005), Mùa màng tháng tư (2007). Năm 2011, tuyển tập Đười ươi chân kinh ra đời; năm 2023, VnExpress đưa tin tập di cảo Trăm năm vui buồn với 91 bài. Ông không có văn bản nào trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành, nhưng những nghiên cứu về ông, về lục bát và về thơ miền Nam trước 1975 thì ngày càng nhiều.