Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã là câu thành ngữ có nghĩa đen “trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa”, nghĩa bóng là người cùng một loại, cùng tính nết thì tự tìm đến nhau và kết thành bè. Câu này thường mang ý chê, nhất là khi nói những kẻ xấu tụ lại một chỗ. Nhiều người chỉ nói gọn nửa đầu: ngưu tầm ngưu.
| Nghĩa | Người cùng loại, cùng tính nết thì tìm đến và chơi với nhau |
| Nghĩa đen | Trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa |
| Chữ Hán Việt | ngưu 牛 (trâu), tầm 尋 (tìm), mã 馬 (ngựa) |
| Sắc thái | Thường chê; đôi khi dùng để đùa vui giữa bạn bè |

Ngưu tầm ngưu mã tầm mã: trâu tìm trâu
Hình ảnh trong câu rất gần với người nhà nông. Thả trâu ra bãi, trâu sẽ tìm về đàn trâu; ngựa sẽ đứng cạnh ngựa. Chẳng ai phải lùa, con vật tự nhận ra đồng loại. Từ quan sát ấy, câu thành ngữ chuyển sang nói về người: ai giống ai thì sẽ tìm thấy nhau.
Các nguồn giải nghĩa cho thấy câu này có hai mức dùng. Ở mức trung tính, nó chỉ đơn giản nói rằng những người giống nhau thường tụ lại với nhau. Ở mức thường gặp hơn, nó mang ý chê: kẻ xấu đi tìm kẻ xấu để câu kết, cùng làm điều sai. Nghe ai nói “đúng là ngưu tầm ngưu” về một nhóm người, gần như chắc chắn người nói đang không có thiện cảm với nhóm đó.
Ví dụ: Hai cậu ấy hay rủ nhau bỏ tiết ra quán điện tử, đúng là ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.
Ba chữ Hán Việt trong câu
Cả câu chỉ dùng ba chữ, lặp lại thành hai vế đối nhau. Ngưu (牛) là trâu, bò; chữ này còn trong Khiên Ngưu (chàng chăn trâu trong chuyện Ngưu Lang Chức Nữ). Mã (馬) là ngựa, như trong mã đáo thành công, binh mã. Tầm (尋) là tìm, gặp lại trong sưu tầm, truy tầm.
Kiểu cấu trúc “A tầm A, B tầm B” vừa đối vừa lặp nên rất dễ thuộc. Người nghe không cần biết chữ Hán vẫn đoán được nghĩa nhờ chữ “ngưu”, “mã” vốn quen tai qua mười hai con giáp. Về chuyện chữ “mã” trong một câu chúc khác, có thể đọc thêm bài giải nghĩa câu chúc mã đáo thành công.
Câu cùng nghĩa và câu dễ nhầm
| Câu | Nghĩa | Sắc thái |
|---|---|---|
| Mây tầng nào gặp mây tầng ấy | Người cùng cảnh, cùng trình độ thì gặp nhau | Trung tính, đôi khi mỉa |
| Nồi nào úp vung nấy | Ai hợp với người nấy, hay nói về đôi lứa | Đùa hoặc chê |
| Cá mè một lứa | Cùng một loại, ngang nhau, thường là cùng kém | Chê |
| Vật họp theo loài | Cùng loại thì tụ lại với nhau | Trung tính |
| Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng | Ở gần ai thì dễ nhiễm tính người ấy | Lời khuyên chọn bạn |
Câu cuối hay bị đánh đồng với ngưu tầm ngưu, nhưng chiều nhân quả của hai câu ngược nhau. Ngưu tầm ngưu nói người ta giống nhau trước rồi mới tìm đến nhau. Gần mực thì đen nói người ta ở gần nhau trước rồi mới thành giống nhau. Một câu giải thích vì sao nhóm bạn đó tụ lại; câu kia cảnh báo điều sẽ xảy ra nếu mình nhập vào nhóm ấy.
Tiếng Anh có câu rất sát nghĩa: Birds of a feather flock together (chim cùng lông thì bay cùng đàn). Muốn hiểu vì sao những câu như thế được gọi là thành ngữ, xem thêm bài cách nhận ra một câu thành ngữ.
Riêng lời chê hai người cùng kém ngang nhau thì mượn hình ảnh rất đời thường của ao cá, và thành ngữ cá mè một lứa kể rõ vì sao lại là con cá mè.
Đặt câu với ngưu tầm ngưu
- Chê một nhóm làm điều sai: Mấy tay buôn hàng giả kéo nhau về một chợ, đúng kiểu ngưu tầm ngưu.
- Tự trêu mình với bạn thân: Tao mê ăn vặt, mày cũng thế, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã cả thôi.
- Nhận xét trong bài văn: Kẻ xu nịnh thích ở cạnh người ưa nghe nịnh; câu “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” chưa bao giờ sai.
Còn khi muốn nói về những người bạn tốt tìm thấy nhau, tiếng Việt có nhiều cách hay hơn, như chữ tri kỉ hay những gì bài giải nghĩa chữ tình bạn đã nói. Lưu ý cuối: câu này ví người với trâu ngựa, nên đem ra nói về người lớn tuổi hay người mới quen dễ bị coi là xúc phạm, kể cả khi mình chỉ định đùa.
Ngưu tầm ngưu trong lời khen, lời chê và tiếng Anh
Ngưu tầm ngưu mã tầm mã nghĩa là gì?
Nghĩa đen là trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa. Nghĩa bóng là người cùng loại, cùng tính nết thì tự tìm đến nhau, thường dùng để chê những kẻ xấu kết bè với nhau.
Đây là thành ngữ hay tục ngữ?
Phần lớn sách báo gọi là thành ngữ, vì nó là một cụm cố định dùng để ví von, nhận xét. Có tài liệu xếp chung vào nhóm thành ngữ, tục ngữ về con trâu, con ngựa. Khi làm bài, gọi là thành ngữ là an toàn.
Ngưu tầm ngưu tiếng Anh là gì?
Câu tương đương quen nhất là Birds of a feather flock together. Câu tiếng Anh trung tính hơn một chút, nhưng cũng hay được dùng để chê một nhóm người.
Có thể dùng ngưu tầm ngưu để khen không?
Hiếm khi. Câu này mang sẵn ý chê nên dùng để khen nghe rất lạ. Chỉ giữa bạn bè thân, khi tự trêu nhau vì cùng một sở thích, nó mới mang giọng vui vẻ.