Nghịch cảnh là cảnh ngộ trắc trở, ngang trái, đi ngược với điều người ta mong muốn: nhà nghèo mà gặp bệnh, đang yên ổn thì mất việc, học giỏi mà không được đi học. Người ta hay nói “rơi vào nghịch cảnh”, “vượt qua nghịch cảnh”. Trái nghĩa với nó là thuận cảnh, khi mọi việc êm xuôi.
| Nghĩa ngắn | Hoàn cảnh khó khăn, éo le, trái với lẽ thường và ý muốn |
| Gốc từ | Hán Việt 逆境: nghịch (ngược, trái) + cảnh (cõi, tình thế) |
| Loại từ | Danh từ |
| Trái nghĩa | Thuận cảnh (順境) |
| Tiếng Anh | adversity |

Chữ “cảnh” nào trong nghịch cảnh?
Nhiều người đoán nghịch cảnh là “cảnh vật trái ngược”, vì quen với chữ cảnh trong phong cảnh, cảnh đẹp. Thật ra đó là hai chữ Hán khác nhau. Cảnh trong phong cảnh là 景, nghĩa là cái nhìn thấy, quang cảnh. Cảnh trong nghịch cảnh là 境, nghĩa gốc là bờ cõi, vùng đất, rồi chuyển sang chỉ tình thế mà một người đang ở trong đó. Chữ này có mặt trong hoàn cảnh, cảnh ngộ, biên cảnh, cảnh giới.
Chữ nghịch (逆) là ngược chiều, trái lại: nghịch gió là ngược gió, nghịch lý là điều trái lẽ, phản nghịch là chống lại. Ghép lại, 逆境 là cái cõi mà mọi thứ đều chạy ngược với mình. Tiếng Hán và tiếng Nhật cũng dùng đúng hai chữ này cho hoàn cảnh bất lợi, và đặt nó đối với 順境 (thuận cảnh), cảnh xuôi chiều. Hình dung một người chèo thuyền ngược dòng nước là nắm được ngay sắc thái của từ.
Nghịch cảnh dùng cho những chuyện thế nào?
Từ điển tiếng Việt giải nghịch cảnh là “cảnh ngộ trắc trở, trái với lẽ thường”, kèm những ví dụ như nghịch cảnh trớ trêu, trải qua nhiều nghịch cảnh. Có hai điều nên để ý khi dùng.
Thứ nhất, nghịch cảnh nói về một tình trạng kéo dài chứ không phải một sự việc chớp nhoáng. Một trận ốm là chuyện không may; sống nhiều năm với bệnh tật, vừa chữa bệnh vừa đi học, mới là nghịch cảnh. Thứ hai, từ này mang sắc thái khá nặng và trang trọng. Trượt một bài kiểm tra mười lăm phút mà gọi là nghịch cảnh thì nghe quá lời; nói vậy chỉ hợp khi đùa.
Câu dùng đúng chỗ: Mồ côi cha từ năm tám tuổi, anh lớn lên trong nghịch cảnh nhưng chưa bao giờ bỏ học. Hoặc: Có những tình bạn chỉ lộ rõ khi một trong hai người gặp nghịch cảnh.
Nhiều nghịch cảnh bắt đầu từ một sự việc bất ngờ làm đảo lộn cuộc sống, tức một biến cố trong đời.
Gần nghĩa, trái nghĩa và vài từ dễ lẫn
| Từ | Quan hệ với nghịch cảnh | Ghi chú |
|---|---|---|
| Hoàn cảnh khó khăn, cảnh ngộ éo le | Gần nghĩa | Cách nói thường ngày, nhẹ hơn |
| Gian truân, trắc trở, truân chuyên | Gần nghĩa | Nhấn vào sự vất vả, lận đận kéo dài |
| Bĩ cực | Gần nghĩa | Chỗ khốn cùng nhất, như trong “bĩ cực thái lai” |
| Thuận cảnh | Trái nghĩa | Hoàn cảnh xuôi chiều, thuận lợi |
| Nghịch lý | Dễ lẫn | Điều trái với lẽ thường, nói về lập luận, sự việc chứ không phải cảnh ngộ |
| Biến cố | Dễ lẫn | Một sự việc lớn xảy ra bất ngờ; biến cố có thể đẩy người ta vào nghịch cảnh |
Cũng đừng nhầm chữ nghịch trong nghịch cảnh với nghịch trong nghịch ngợm, tinh nghịch. Nghịch ngợm là trò đùa phá của trẻ con, không dính dáng gì tới cảnh ngộ khó khăn.
Từ Thúy Kiều đến câu tục ngữ thử vàng
Văn học Việt Nam có một nhân vật gần như là hiện thân của chữ này: Thúy Kiều. Mười lăm năm lưu lạc, Kiều bán mình chuộc cha, bị lừa vào lầu xanh, bị giam lỏng, bị đày đọa, hết cảnh này đến cảnh khác. Nguyễn Du mở đầu truyện bằng một nhận xét như tóm trước cả số phận ấy:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Đoạn Kiều một mình ở lầu Ngưng Bích, trước mặt là “non xa, trăng gần”, là một lát cắt nghịch cảnh rất rõ, được phân tích ở bài tác phẩm Kiều ở lầu Ngưng Bích.
Còn dân gian thì nhìn nghịch cảnh bằng con mắt lạc quan hơn: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức.” Vàng thật hay giả phải đưa vào lửa mới biết; người có bản lĩnh hay không phải qua gian nan mới rõ. Câu này cùng nhiều câu khác được học ở bài tục ngữ về ý chí, nghị lực lớp 5.
Viết bài nghị luận về vượt qua nghịch cảnh
“Suy nghĩ về ý chí vượt qua nghịch cảnh” là đề nghị luận quen ở cả THCS và THPT. Một hướng triển khai có thể dùng:
- Giải thích: nghịch cảnh là hoàn cảnh trắc trở, trái ý muốn; vượt qua nghịch cảnh là không buông xuôi, tìm cách sống tiếp và đi lên.
- Vì sao nghịch cảnh rèn người: nó buộc ta tự lực, học cách chịu đựng, biết quý những gì đang có.
- Dẫn chứng: một bạn học sinh vừa đi học vừa phụ bố mẹ bán hàng mà vẫn giữ thành tích; một nhân vật văn học không gục ngã.
- Mặt trái cần nói rõ: không phải ai cũng tự vượt qua được, và chẳng có gì đáng xấu hổ khi nhờ người khác giúp. Đề cao nghịch cảnh tới mức coi khổ là tốt cũng là một cách nghĩ lệch.
Hai phẩm chất thường đi cùng đề này được giải riêng ở bài phân biệt ý chí với nghị lực. Một câu kết gọn cho bài văn: người ta không chọn được nghịch cảnh, nhưng chọn được dáng đứng của mình trong đó.
Nghịch cảnh trong vài câu nói thường gặp
Nghịch cảnh nghĩa là gì nói ngắn cho học sinh?
Là hoàn cảnh khó khăn, trớ trêu, đi ngược mong muốn của mình, như nhà nghèo, mất người thân, bệnh tật lâu dài. Từ trái nghĩa là thuận cảnh.
Vượt qua nghịch cảnh là gì?
Là đối mặt với hoàn cảnh khó khăn mà không bỏ cuộc, tìm cách thích nghi và tiếp tục sống, học tập, làm việc. Vượt qua không có nghĩa là xóa được khó khăn, mà là không để nó quyết định thay mình.
Nghịch cảnh tiếng Anh là gì?
Thường dịch là adversity; cụm “vượt qua nghịch cảnh” là overcome adversity. Trong văn nói còn gặp hard times (thời kì khó khăn).
Nghịch cảnh và hoàn cảnh khác nhau thế nào?
Hoàn cảnh là tình thế nói chung, có thể tốt hoặc xấu. Nghịch cảnh chỉ riêng hoàn cảnh bất lợi, éo le. Mọi nghịch cảnh đều là hoàn cảnh, nhưng không phải hoàn cảnh nào cũng là nghịch cảnh.