Mắt biếc là đôi mắt có sắc xanh trong, ánh lên như màu nước sâu hay màu lá non; trong văn chương, cụm từ này thường dùng để khen một đôi mắt đẹp, trong veo và có hồn. Nhiều người gõ “mắt biếc nghĩa là gì” vì nhớ tới cuốn tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Nhật Ánh, nơi đôi mắt ấy thuộc về cô gái tên Hà Lan.
| Nghĩa ngắn | Đôi mắt màu xanh biếc; nghĩa rộng là đôi mắt trong, đẹp, nhìn rất có hồn |
| Cấu tạo | Danh từ mắt + tính từ biếc (xanh lam pha lục, gốc Hán Việt 碧 bích) |
| Loại từ | Cụm danh từ |
| Sắc thái | Văn chương, trìu mến; ít gặp trong lời nói thường ngày |

Chữ biếc trong mắt biếc chỉ màu gì?
Muốn hiểu cụm từ thì phải bắt đầu từ chữ đứng sau. Từ điển tiếng Việt giảng biếc là tính từ, chỉ màu xanh lam có pha sắc lục, nhìn dễ chịu, ví dụ chiếc lá biếc. Wiktionary ghi thêm rằng chữ này là cách đọc Việt hóa của chữ Hán 碧, âm Hán Việt là bích, cũng là chữ trong ngọc bích và bích ngọc.
Biếc không phải một màu xanh nhạt nhòa. Nó đậm, sâu và có độ sáng, giống mặt hồ trong một ngày nắng. Vì thế người xưa hay đi cặp non xanh nước biếc: núi thì xanh, còn nước thì biếc. Ghép với mắt, cụm từ gợi một đôi mắt trong đến mức như có nước, nhìn vào thấy cả chiều sâu.
Cần nói rõ một điều: người Việt phần lớn có mắt nâu đen, nên khi nhà thơ, nhà văn viết mắt biếc, họ ít khi tả đúng màu mống mắt. Họ mượn sắc “biếc” để nói vẻ trong trẻo, long lanh. Nghĩa đen chỉ màu, nghĩa văn chương chỉ cái đẹp.
Những từ đứng gần mắt biếc
| Cụm từ | Nghĩa | Khác mắt biếc ở đâu |
|---|---|---|
| Mắt xanh | Mắt màu xanh; trong văn cổ còn chỉ cái nhìn coi trọng, quý mến | Trung tính hơn, có thêm nghĩa bóng “để mắt xanh” tới ai |
| Mắt nai | Mắt to, tròn, ngơ ngác | Nhấn vào vẻ hồn nhiên, không nói về màu |
| Mắt bồ câu | Mắt tròn, đen láy, hiền | Gợi dáng mắt; mắt biếc gợi độ trong |
| Mắt lá răm | Mắt dài, hơi xếch, sắc | Gợi vẻ duyên, sắc sảo |
| Mắt đục, mắt mờ | Mắt không còn trong, thường vì tuổi già hay mệt mỏi | Gần như ngược nghĩa với mắt biếc |
Một nhầm lẫn hay gặp là viết mắt biết. Chữ “biết” là hiểu, nhận ra, không chỉ màu nên đặt sau “mắt” không có nghĩa gì. Đúng là biếc, vần “iêc”.
Biếc nói về màu và độ trong của mắt, còn dáng mắt thì dân gian có cả bộ tên riêng, từ mắt phượng đến mắt lươn nhỏ, hẹp và dài.
Từ non xanh nước biếc đến Truyện Kiều
Trước khi thành tên một cuốn sách, chữ biếc đã quen mặt trong ca dao và thơ cổ. Câu ca dao về xứ Nghệ dùng nó để vẽ cả một vùng sơn thủy:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Nguyễn Du thì dùng biếc cho sắc lá rừng mùa thu, đặt sát bên màu đỏ: “Rừng thu từng biếc xen hồng” (có bản chép “chen hồng”). Một câu thơ mà có hai mảng màu, lá còn xanh xen lá đã ngả, và chữ biếc giữ phần tươi mát của bức tranh. Muốn đọc thêm cách các nhà thơ cổ chọn chữ tả cảnh, có thể xem bài các biện pháp tu từ hay gặp trong thơ.
Ngoài thơ, người ta vẫn nói hằng ngày theo lối khen: Con bé có đôi mắt biếc, cười lên là mắt cong như trăng non.
Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh: đôi mắt Hà Lan
Mắt biếc là cuốn tiểu thuyết do Nguyễn Nhật Ánh viết, in lần đầu năm 1990 tại Nhà xuất bản Trẻ và được tái bản rất nhiều lần. Truyện kể về Ngạn, cậu bé lớn lên ở làng Đo Đo (Quảng Nam), thương cô bạn hàng xóm Hà Lan từ thuở nhỏ. Nhan đề gọi tên chính đôi mắt của Hà Lan, thứ mà Ngạn mang theo suốt những năm tháng thầm thương.
Lên thành phố học, Hà Lan đổi khác và đến với Dũng, một chàng trai hào nhoáng. Ngạn vẫn ở bên cô như một người bạn, kể cả khi cô bị bỏ rơi và phải gửi con gái nhỏ là Trà Long về quê. Sau này, Ngạn thương yêu, chăm lo cho Trà Long, cho tới lúc nhận ra trong cô bé mình vẫn chỉ thấy bóng hình người mẹ. Đó là một mối tình đơn phương kéo dài cả tuổi trẻ, buồn mà trong, và kết không có hậu.
Năm 2019, đạo diễn Victor Vũ chuyển thể truyện thành phim điện ảnh cùng tên, với Trần Nghĩa vai Ngạn và Trúc Anh vai Hà Lan. Phim làm cho cụm từ “mắt biếc” được tìm kiếm nhiều trở lại. Ai muốn hiểu vì sao truyện của ông được nhiều thế hệ đón đọc có thể đọc thêm tiểu sử và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
Mắt biếc: mấy điều người đọc hay hỏi
Mắt biếc nghĩa là gì trong tiếng Việt?
Theo nghĩa đen là mắt có màu xanh biếc, tức xanh lam pha lục. Theo nghĩa văn chương là đôi mắt trong, sáng, đẹp và có hồn, không nhất thiết phải màu xanh.
Mắt biếc là mắt màu gì?
Màu xanh đậm, sáng, giữa xanh da trời và xanh lá, giống màu nước hồ sâu. Khi dùng để khen người Việt, cụm từ thường chỉ vẻ trong trẻo chứ không mô tả đúng màu mống mắt.
Mắt biếc là truyện của ai, kể về chuyện gì?
Đó là tiểu thuyết của Nguyễn Nhật Ánh, in năm 1990. Truyện kể mối tình thầm lặng của Ngạn dành cho Hà Lan, cô bạn có đôi mắt đẹp, từ làng quê ra thành phố, rồi sang cả thế hệ sau với Trà Long.
Viết mắt biếc hay mắt biết?
Viết mắt biếc. “Biếc” là tên một sắc xanh, còn “biết” là động từ chỉ sự hiểu, đặt sau “mắt” không thành nghĩa.