Phân tích bài thơ Lượm là đề văn quen thuộc khi học Bài 7 sách Ngữ văn 6 Cánh diều. Bài thơ bốn chữ của Tố Hữu kể và tả về chú bé liên lạc hồn nhiên, dũng cảm đã hi sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Dưới đây là dàn ý chung và 5 bài văn mẫu theo nhiều hướng: phân tích toàn bài, phân tích nhân vật Lượm, bài ngắn gọn, phân tích đoạn thơ về sự hi sinh và cảm nghĩ của em.
Trước khi viết, em nên xem lại bài soạn Lượm để nắm chắc bố cục và các câu hỏi đọc hiểu.

Dàn ý phân tích bài thơ Lượm
1. Mở bài
– Giới thiệu nhà thơ Tố Hữu – tiếng thơ trữ tình chính trị tiêu biểu, có nhiều bài viết về thiếu nhi.
– Giới thiệu bài thơ Lượm (1949, tập Việt Bắc): bức chân dung chú bé liên lạc hồn nhiên và sự hi sinh cao đẹp.
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh cuộc gặp gỡ
+ Thời điểm Huế bị giặc đánh chiếm, chú cháu gặp nhau tình cờ ở Hàng Bè.
+ Không khí căng thẳng của chiến tranh làm nổi bật vẻ hồn nhiên của Lượm.
b. Hình ảnh Lượm trong lần gặp
+ Dáng vẻ: nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, được gợi bằng một chuỗi từ láy tả dáng người.
+ Trang phục: xắc nhỏ, mũ ca lô đội lệch – vừa ra dáng chiến sĩ vừa tinh nghịch.
+ Cử chỉ, lời nói: huýt sáo, nhảy nhót như chim chích; khoe công việc liên lạc, cười híp mí, chào “đồng chí”.
⇒ Một em bé yêu đời, say mê nhiệm vụ.
c. Sự hi sinh của Lượm
+ Tin dữ đến đột ngột; dòng thơ ngắt đôi thể hiện nỗi nghẹn ngào.
+ Chuyến đưa thư cuối cùng: bất chấp đạn bay, thư “thượng khẩn”.
+ Cái chết nhẹ nhàng, thiêng liêng trên đồng lúa: em hòa vào quê hương.
⇒ Người chú chuyển cách gọi sang “đồng chí nhỏ”: cảm phục, trân trọng.
d. Lượm sống mãi
+ Câu hỏi tu từ đứng riêng một dòng: nỗi đau và niềm thương nhớ.
+ Khổ thơ đầu được lặp lại: Lượm vẫn tươi tắn trong kí ức và trong lòng đất nước.
e. Nghệ thuật
+ Thơ bốn chữ, nhịp nhanh, gần đồng dao; kết hợp tự sự, miêu tả, biểu cảm.
+ Từ láy, so sánh, ngắt dòng, kết cấu vòng tròn.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị bài thơ: tấm gương thiếu niên anh hùng và tình cảm sâu nặng của nhà thơ.
– Liên hệ trách nhiệm của thế hệ hôm nay.
Phân tích bài thơ Lượm – mẫu 1
Trong kho tàng thơ viết cho thiếu nhi, hiếm có bài nào vừa trong trẻo vừa xót xa như Lượm của Tố Hữu. Viết năm 1949 và in trong tập Việt Bắc, bài thơ kể lại câu chuyện về một chú bé liên lạc mà nhà thơ từng gặp ở Huế. Bằng thể thơ bốn chữ ngắn gọn, Tố Hữu đã để lại bức chân dung hồn nhiên của Lượm và một khúc tưởng niệm cảm động về sự hi sinh của em.
Câu chuyện bắt đầu trong khung cảnh chiến tranh khốc liệt: Huế đổ máu, người chú từ Hà Nội trở về và tình cờ gặp đứa cháu ở Hàng Bè. Giữa lúc thành phố nghẹt thở vì khói súng, sự xuất hiện của Lượm như một luồng gió tươi mát. Nhà thơ dùng liền bốn dòng thơ để vẽ dáng hình em:
Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh
Những từ láy đặt cuối mỗi dòng vừa gợi hình vừa gợi âm, khiến ta như thấy một cậu bé nhỏ thó, đeo chiếc túi con con, bước đi rất nhanh, đầu ngẩng lên đầy vẻ tự tin. Chiếc mũ ca lô đội lệch, tiếng huýt sáo và dáng nhảy nhót như chú chim chích trên đường càng làm hiện rõ tính cách tinh nghịch của một đứa trẻ. Lượm là người lính nhỏ, nhưng trước hết vẫn là một em bé.
Rồi Lượm cất lời. Em hồn nhiên kể công việc đưa thư, khẳng định ở đồn Mang Cá còn thích hơn ở nhà. Đôi mắt cười tít lại, hai má đỏ như quả bồ quân và câu chào “đồng chí” rất người lớn khiến người chú vừa buồn cười vừa thương. Hình ảnh em đi xa dần khép lại cuộc gặp như một đoạn phim chậm, để lại dư âm vui tươi.
Nhưng chiến tranh không cho niềm vui kéo dài. Hai chú cháu mỗi người một ngả, và tháng sáu năm ấy người chú nghe tin về Lượm. Dòng thơ bỗng gãy đôi, mỗi dòng chỉ còn hai chữ: “Ra thế”, “Lượm ơi!”. Cách ngắt dòng ấy như tiếng nấc nghẹn của người lớn khi đón nhận sự thật quá đau lòng.
Đoạn thơ tiếp theo dựng lại chuyến đi cuối cùng của Lượm. Vẫn như mọi ngày, em cất thư cẩn thận rồi băng qua trận địa giữa làn đạn. Bức thư khẩn khiến em quên cả nguy hiểm. Trên con đường quê, chiếc ca lô nhấp nhô giữa đồng lúa đang trổ đòng – một hình ảnh vừa đẹp vừa mong manh. Rồi một ánh chớp lóe lên. Tiếng kêu “Thôi rồi, Lượm ơi!” bật ra như không kìm được. Nhà thơ tránh mọi chi tiết thương tích, chỉ chọn bằng hình ảnh rất nhẹ nhàng:
Cháu nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lượm ngã xuống giữa cánh đồng quê hương, tay vẫn giữ bông lúa thơm sữa non. Em như được đất mẹ ôm vào lòng, linh hồn em hòa vào đồng lúa. Chính ở đây, người chú gọi Lượm là chú đồng chí nhỏ, cách gọi chứa đựng cả yêu thương lẫn kính phục.
Bài thơ khép lại bằng một dòng thơ đứng riêng: “Lượm ơi, còn không?”. Câu hỏi không chờ lời đáp, chỉ để nỗi nhớ thương ngân dài. Và rồi, như một câu trả lời, khổ thơ tả Lượm loắt choắt, nghênh nghênh lại hiện ra. Kết cấu vòng tròn ấy khẳng định Lượm chưa mất: em vẫn tung tăng trên con đường vàng trong trí nhớ người chú và của mỗi người đọc.
Về nghệ thuật, thể thơ bốn chữ với nhịp nhanh, gần với đồng dao rất hợp để kể về một em bé. Tố Hữu khéo kết hợp kể chuyện, miêu tả và bộc lộ cảm xúc; dùng nhiều từ láy, so sánh, câu cảm thán và những dòng thơ bị ngắt đôi đầy dụng ý.
Lượm là bài thơ về một em bé, nhưng cũng là bài thơ về cả một thế hệ thiếu niên đã góp tuổi thơ mình cho độc lập dân tộc. Gấp trang sách lại, ta càng biết quý những mất mát lặng thầm đã làm nên những ngày yên ả hôm nay.
Phân tích hình ảnh chú bé Lượm – mẫu 2
Nhắc đến những thiếu niên anh hùng thời kháng chiến, người ta nghĩ ngay đến Kim Đồng, Võ Thị Sáu. Bên cạnh họ, văn học còn lưu giữ một gương mặt nhỏ bé mà đáng yêu: chú bé liên lạc Lượm mà Tố Hữu đã đặt tên cho cả bài thơ. Hình ảnh Lượm hiện lên qua hai thời điểm: lúc hồn nhiên vui tươi và lúc anh dũng hi sinh.
Ở lần gặp người chú tại Huế, Lượm hiện ra trước hết với dáng vẻ của một đứa trẻ. Chuỗi từ láy tả dáng người, tả bước chân, tả cái đầu đặt liên tiếp tạo nên nhịp điệu nhanh, vui như bước chân em. Chiếc xắc nhỏ đeo bên hông và chiếc mũ ca lô đội lệch là trang phục của người lính, nhưng cách đội mũ lệch lại tố cáo nét tinh nghịch con trẻ. Em vừa đi vừa huýt sáo, được ví như chú chim chích nhảy nhót trên đường vàng – một so sánh rất đúng với cái nhanh nhảu, lanh lợi của tuổi thơ.
Lượm còn đáng yêu ở tâm hồn. Em hồn nhiên khoe với chú rằng đi liên lạc vui lắm, ở đồn còn thích hơn ở nhà. Với em, nhiệm vụ nguy hiểm lại là niềm vui, là niềm tự hào. Đôi mắt cười híp lại, gò má ửng hồng và câu chào “đồng chí” vừa ngây thơ vừa nghiêm trang cho thấy em đã coi mình là một chiến sĩ thực thụ.
Đến khi làm nhiệm vụ, Lượm hiện lên với vẻ đẹp của lòng dũng cảm. Đạn bay vèo vèo, nhưng bức thư khẩn quan trọng hơn mọi hiểm nguy; em vụt qua mặt trận không chút do dự. Hình ảnh chiếc ca lô nhấp nhô trên đồng lúa thật đẹp, rồi bỗng chốc bị cắt ngang bởi chớp lửa. Lượm ngã xuống, tay vẫn nắm bông lúa, như ôm lấy quê hương. Cái chết của em không bi thảm mà thiêng liêng, khiến người chú gọi em bằng cách gọi trang trọng chú đồng chí nhỏ.
Lượm hi sinh, nhưng hình ảnh em không mất đi. Khổ thơ đầu được lặp lại ở cuối bài, đưa Lượm trở về với dáng hình tung tăng ngày nào. Em đã sống mãi trong lòng người chú, trong lòng đất nước.
Qua hình ảnh Lượm, Tố Hữu ca ngợi những em bé nhỏ tuổi mà có tấm lòng lớn, sẵn sàng góp sức cho kháng chiến. Lượm là tấm gương để thiếu nhi hôm nay biết yêu quê hương, sống có lí tưởng và trân trọng hòa bình.
Phân tích bài thơ Lượm ngắn gọn – mẫu 3
Bài thơ Lượm của Tố Hữu kể về một chú bé liên lạc trong kháng chiến chống thực dân Pháp, qua đó ngợi ca vẻ đẹp hồn nhiên và tinh thần dũng cảm của thiếu niên Việt Nam.
Trong lần gặp người chú ở Huế, Lượm hiện lên nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và tinh nghịch: dáng người bé loắt choắt, bước đi thoăn thoắt, đầu lúc nào cũng nghênh nghênh, mũ ca lô đội lệch, miệng huýt sáo như chú chim chích. Em hồn nhiên kể chuyện đi liên lạc, cười híp mí rồi chào chú như chào một người đồng chí.
Khi hay tin Lượm hi sinh, lời thơ ngắt quãng, nghẹn ngào. Lượm ngã xuống khi đang mang thư khẩn, giữa cánh đồng lúa quê hương, tay vẫn nắm bông lúa. Cái chết ấy được miêu tả nhẹ nhàng, thiêng liêng, như em đã hòa vào đất nước. Người chú gọi em là chú đồng chí nhỏ với tất cả niềm cảm phục.
Kết thúc bài thơ, câu hỏi “Lượm ơi, còn không?” vang lên đầy xót xa, rồi khổ thơ tả Lượm ở đầu bài trở lại, khẳng định em vẫn sống mãi.
Với thể thơ bốn chữ, những từ láy giàu hình ảnh, sự kết hợp kể – tả – biểu cảm và kết cấu vòng tròn, Tố Hữu đã khắc họa thành công một nhân vật đáng yêu, đáng kính. Bài thơ giúp em hiểu và biết ơn những bạn nhỏ đã hi sinh vì độc lập của Tổ quốc.
Phân tích đoạn thơ kể về sự hi sinh của Lượm – mẫu 4
Nếu năm khổ thơ đầu của bài Lượm tươi vui như một bức tranh đầy nắng, thì phần sau của bài thơ chuyển sang gam màu trầm lắng. Đó là đoạn Tố Hữu kể lại giây phút chú bé liên lạc ngã xuống – đoạn thơ khiến nhiều thế hệ học trò không cầm được xúc động.
Mạch thơ chuyển hướng bằng những dòng kể bình thản: chú cháu mỗi người một đường, rồi đến tháng sáu, người chú chợt nghe tin. Ngay sau đó, khổ thơ vỡ vụn thành hai dòng chỉ hai chữ: “Ra thế”, “Lượm ơi!”. Hình thức thơ bất thường ấy diễn tả chính xác trạng thái của người chú: sững sờ, nghẹn lời, không thể nói thành câu trọn vẹn.
Người chú tưởng tượng lại chuyến đi cuối cùng của Lượm. Mọi thứ diễn ra như bao ngày: em bỏ thư vào bao, chạy băng qua trận tuyến. Tiếng đạn rít ngang tai gợi sự nguy hiểm đang bủa vây, nhưng ý nghĩ về bức thư khẩn đã lấn át nỗi sợ trong em. Câu hỏi tu từ ở cuối khổ như lời đáp thay Lượm: có gì đáng sợ đâu khi nhiệm vụ đang chờ.
Khổ thơ tiếp theo vẽ một khung cảnh yên bình đến nao lòng: đường quê vắng, lúa trổ đòng, chiếc ca lô nhấp nhô trên đồng. Chính sự yên bình ấy làm cho chớp lửa đỏ lóe lên càng thêm đột ngột. Tiếng kêu “Thôi rồi, Lượm ơi!” là tiếng lòng đau đớn bật ra của người chú. Hình ảnh dòng máu tươi chỉ được nhắc rất ngắn, đủ để người đọc lặng đi.
Đẹp nhất trong đoạn thơ là hình ảnh Lượm nằm xuống. Em nằm giữa ruộng lúa, bàn tay giữ chặt bông lúa ngậm sữa thơm, linh hồn như bay lên giữa cánh đồng. Tố Hữu không để cái chết của Lượm trở nên bi thảm; ông đặt em vào lòng cánh đồng quê, nơi có hương lúa non, như một giấc ngủ yên. Lượm đã hóa thân vào quê hương, trở thành một phần của đất nước mà em bảo vệ.
Đoạn thơ khép lại bằng một dòng đứng riêng: “Lượm ơi, còn không?”. Câu hỏi bỏ lửng, không lời đáp, khiến nỗi tiếc thương kéo dài mãi. Nhưng ngay sau đó, khổ thơ tả Lượm loắt choắt, nghênh nghênh lại vang lên, như một câu trả lời: Lượm vẫn còn, vẫn tung tăng trong lòng mọi người.
Bằng cách ngắt dòng, dùng câu cảm thán, câu hỏi tu từ và những hình ảnh giàu chất thơ, đoạn thơ đã biến sự hi sinh của một em bé thành một khoảnh khắc bất tử. Đọc đoạn thơ, ta vừa xót thương vừa tự hào về những người con nhỏ tuổi của dân tộc.
Cảm nghĩ về bài thơ Lượm – mẫu 5
Có những bài thơ đọc một lần là nhớ mãi. Với em, Lượm của Tố Hữu là một bài thơ như thế. Mỗi lần đọc, em lại thấy một cậu bé nhỏ xíu đội mũ ca lô lệch, vừa đi vừa huýt sáo, và rồi lặng người khi cậu bé ấy mãi mãi nằm giữa ruộng lúa quê.
Điều đầu tiên làm em yêu mến Lượm là sự hồn nhiên. Lượm cũng như chúng em: thích nhảy nhót, thích huýt sáo, hay cười. Chỉ khác là Lượm đã làm liên lạc cho bộ đội khi tuổi còn rất nhỏ. Vậy mà em không hề than vãn; em còn khoe đi liên lạc vui lắm, ở đồn còn thích hơn ở nhà. Đọc đến đó, em vừa buồn cười vì cái giọng khoe khoang ngộ nghĩnh, vừa thấy thương vì tuổi thơ của bạn ấy gắn với súng đạn.
Rồi em xúc động khi đọc đoạn Lượm hi sinh. Lượm lao qua trận địa, đạn rít bên tai mà bạn ấy chẳng sợ gì, vì lá thư cần được đưa đến kịp. Khi chớp lửa lóe lên, câu thơ “Thôi rồi, Lượm ơi!” làm em nghẹn lại. Nhưng hình ảnh Lượm nằm trên lúa, tay nắm bông lúa thơm sữa lại khiến em thấy dịu đi. Em nghĩ Lượm như đang ngủ giữa cánh đồng quê, được đất mẹ che chở.
Em đặc biệt thích đoạn cuối bài. Sau câu hỏi “Lượm ơi, còn không?”, nhà thơ lại nhắc lại hình ảnh Lượm loắt choắt, nghênh nghênh. Em hiểu rằng Lượm không mất đi; bạn ấy vẫn sống trong trí nhớ của người chú và của tất cả chúng ta.
Nhờ bài thơ, em hiểu cái giá của hòa bình là vô vàn mất mát, kể cả của những bạn nhỏ như Lượm. Em tự nhủ sẽ chăm học, sống tử tế và biết ơn những người đã ngã xuống vì quê hương.
Kết luận
Để làm tốt đề phân tích bài thơ Lượm, em nên đi theo bố cục ba phần của bài thơ, chú ý các từ láy tả dáng hình, sự thay đổi cách xưng hô, những dòng thơ ngắt đôi và kết cấu vòng tròn. Vì thơ Tố Hữu còn được bảo hộ, trong bài làm chỉ nên trích từng câu, từng khổ ngắn để làm dẫn chứng.
Xem thêm: