Linearthinking là tên một phương pháp học tiếng Anh dựa trên lối tư duy tuyến tính: đọc, nói và viết bằng cách nối các ý thành một chuỗi thẳng, câu sau tựa vào câu trước. Tên viết liền là cách gọi riêng của một học viện tiếng Anh ở TP.HCM; còn linear thinking viết rời là khái niệm chung, nghĩa là suy nghĩ theo từng bước logic từ điểm đầu tới kết luận.
| Nghĩa ngắn | Phương pháp học tiếng Anh xây trên lối nghĩ theo chuỗi logic một chiều |
| Gốc từ | Tiếng Anh linear (thuộc về đường thẳng) + thinking (sự suy nghĩ) |
| Tiếng Việt | Tư duy tuyến tính; có người gọi là tư duy tuần tự |
| Hay gặp ở | Luyện thi IELTS, kĩ năng đọc hiểu và viết đoạn văn |

Linearthinking: một chữ viết liền, hai cách hiểu
Gõ cụm này lên mạng, người đọc sẽ gặp hai thứ trộn vào nhau, nên tách ra trước cho gọn.
Thứ nhất là khái niệm chung. Linear thinking mô tả cách suy nghĩ đi theo một đường: bắt đầu từ một dữ kiện, suy ra bước tiếp theo, rồi bước nữa, cho tới kết luận. Không nhảy cóc, không rẽ ngang. Các trang luyện thi như IDP giải thích nó là việc sắp xếp ý theo trình tự rõ ràng, chẳng hạn từ nguyên nhân tới kết quả hay từ vấn đề tới cách giải quyết. Các tài liệu kĩ năng bằng tiếng Anh cũng đặt nó cạnh vertical thinking và sequential thinking.
Thứ hai là tên một phương pháp. Viết liền thành Linearthinking, đây là cách tiếp cận do DOL English, một học viện tiếng Anh tại TP.HCM, xây dựng và đặt tên. Báo Tuổi Trẻ và Tiền Phong khi giới thiệu đều mô tả nó là cách học dựa vào tư duy logic thay vì học thuộc lòng: phân loại câu hỏi theo chức năng, phát triển ý theo chuỗi, trả lời theo nhịp nêu ý, giải thích, đưa ví dụ. Những con số về kết quả học viên trên các bài báo này phần lớn do chính đơn vị đào tạo cung cấp, người đọc nên coi là thông tin giới thiệu.
Nói gọn, ai hỏi “linearthinking là gì” thường đang tìm phương pháp thứ hai, còn nền móng của nó là khái niệm thứ nhất. Hiểu được khái niệm thì dùng được lối nghĩ này mà không phụ thuộc vào khóa học nào.
Đọc và viết theo một đường thẳng trông ra sao?
Tư duy tuyến tính lộ ra rõ nhất ở chỗ người ta xử lí một đoạn văn. Mấy dấu hiệu dễ nhận:
- Tìm xương sống trước. Gặp câu dài, người đọc gạt các phần bổ nghĩa sang bên để thấy ai làm gì, rồi mới gắn chi tiết vào. Cách này giúp hiểu câu tiếng Anh nhiều mệnh đề mà không cần biết hết từ mới.
- Đoán được ý sau từ ý trước. Câu mở đoạn đưa ra nhận định thì câu kế thường giải thích, câu sau nữa là ví dụ. Biết trước nhịp ấy, mắt tìm thông tin nhanh hơn.
- Mỗi đoạn một ý. Khi viết, đoạn nào cũng mở bằng một câu nêu ý chính của đoạn, các câu sau chỉ đỡ cho ý đó.
- Từ nối làm chỉ đường. Những chữ như because, therefore, however hay “vì vậy”, “tuy nhiên” cho người đọc biết ý sau đứng với ý trước theo quan hệ gì.
Thử với câu hỏi nói: “Bạn thích đọc sách giấy hay sách điện tử?” Một câu trả lời kiểu tuyến tính đi ba bước: chọn sách giấy; lí do là cầm trên tay thì dễ tập trung, không bị thông báo điện thoại cắt ngang; ví dụ là tối nào cũng đọc vài trang trước khi ngủ mà không mỏi mắt. Ngắn, nhưng không lạc.
Người học văn sẽ thấy quen: đây cũng là cách dạy viết đoạn văn có mạch lạc ở môn Ngữ văn, chỉ khác là áp vào tiếng Anh.
Vì sao người học tìm đến, và cái giá của lối nghĩ một chiều?
Lí do nhiều người Việt học tiếng Anh tìm đến kiểu tư duy này khá dễ hiểu. Học sinh thường nghĩ câu bằng tiếng Việt rồi dịch từng chữ, nên câu sai trật tự, ý rời rạc. Bài đọc IELTS dài và dày chữ, đọc từng từ thì hết giờ. Một lối nghĩ có khuôn, đi từng bước, giúp người học có chỗ bám.
Tác động tốt thấy được ở ba chỗ: bài viết có bố cục, câu trả lời nói không bị vòng vo, đọc nhanh hơn vì biết thông tin nằm đâu. Với bài thi chấm tiêu chí mạch lạc và liên kết, đây là lợi thế thật.
Nhưng lối nghĩ thẳng một đường cũng có giới hạn. Đời sống nhiều khi không chạy theo đường thẳng: một nguyên nhân có thể dẫn tới nhiều kết quả, kết quả lại quay về tác động ngược lên nguyên nhân. Người chỉ quen nghĩ tuần tự dễ bỏ sót những vòng tác động ấy, hoặc chỉ thấy hệ quả trước mắt. Trong văn chương, bám khuôn quá chặt thì bài viết khô, đọc mười bài thấy giống nhau. Vì vậy chính các trang luyện thi cũng khuyên kết hợp nó với lối nghĩ phản biện và lối nghĩ sáng tạo.
Đặt tư duy tuyến tính cạnh những lối nghĩ khác
| Lối nghĩ | Cách đi | Mạnh ở |
|---|---|---|
| Tư duy tuyến tính (linear thinking) | Từng bước một, bước sau tựa vào bước trước | Trình bày rõ, lập luận dễ theo dõi |
| Tư duy đa chiều (lateral thinking) | Rẽ ngang, thử góc nhìn bất ngờ | Tìm ý mới, lời giải sáng tạo |
| Tư duy phản biện (critical thinking) | Đặt câu hỏi, kiểm tra bằng chứng | Đánh giá đúng sai, tránh tin vội |
| Tư duy hệ thống (systems thinking) | Nhìn cả mạng quan hệ và vòng tác động | Hiểu vấn đề nhiều nguyên nhân đan nhau |
Không lối nào thắng tuyệt đối. Một bài nghị luận tốt thường cần cả ba thứ đầu: nghĩ rộng để có ý, nghĩ phản biện để lọc ý, rồi nghĩ tuyến tính để xếp ý thành bài. Phần lọc ý được bàn kĩ trong bài rèn khả năng đặt câu hỏi và kiểm chứng, còn nghĩa gốc của chữ tư duy có ở bài giải nghĩa chữ 思惟.
Linearthinking: mấy điều người học hay hỏi
Linear thinking là gì trong tiếng Việt?
Là tư duy tuyến tính: suy nghĩ theo một chuỗi bước logic nối tiếp nhau, mỗi bước dựa trên bước trước. Khi viết, nó thể hiện ở chỗ ý chính đi trước, giải thích và ví dụ theo sau.
Linearthinking và linear thinking có phải là một?
Gần nhau nhưng không trùng. Linear thinking là khái niệm chung, ai cũng dùng được. Linearthinking viết liền là tên phương pháp của một đơn vị đào tạo, lấy khái niệm ấy làm nền và thêm các bước, công cụ riêng cho việc học tiếng Anh.
Phương pháp Linearthinking có cần học khóa riêng không?
Muốn theo đúng giáo trình của đơn vị đặt tên thì phải học ở đó. Còn tinh thần chung, như tìm ý chính, nối ý bằng quan hệ rõ ràng, nêu ý rồi giải thích và lấy ví dụ, thì tự luyện được qua sách ngữ pháp, bài đọc và bài viết hằng ngày.
Tư duy tuyến tính có phải lối nghĩ kém sáng tạo?
Không hẳn. Nó là công cụ để sắp xếp và trình bày, không phải để tìm ý mới. Người viết giỏi thường nghĩ rộng trước, sau đó mới dùng tư duy tuyến tính để dựng bài cho mạch lạc.