Liêm sỉ là sự trong sạch đi cùng lòng biết xấu hổ: không tham cái không phải của mình, và biết tránh những việc làm hoen ố danh dự của chính mình. Hỏi “liêm sỉ nghĩa là gì” thì cứ nhớ hai vế ấy. Ngược lại, vô liêm sỉ là không còn biết hổ thẹn, làm điều sai mà mặt vẫn tỉnh bơ.
| Nghĩa ngắn | Trong sạch và biết hổ thẹn, tránh việc làm mất danh dự |
| Gốc từ | Hán Việt 廉恥: liêm (ngay thẳng, không lấy xằng) + sỉ (xấu hổ) |
| Loại từ | Danh từ; hay đi với “có”, “không có”, “mất”, “vô” |
| Trái nghĩa | Vô liêm sỉ, trơ trẽn, mặt dày, vô sỉ |

Từ điển nói gì về hai chữ liêm sỉ
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) xếp liêm sỉ là danh từ: bản tính trong sạch, biết tránh không làm những việc gây tiếng xấu cho mình. Ví dụ từ điển đưa ra rất ngắn mà nặng: một người không có liêm sỉ. Từ điển Hồ Ngọc Đức giảng gần như vậy, gọi đó là đức tính của người trong sạch và biết tránh điều làm mình phải xấu hổ.
Để ý một chỗ: cả hai định nghĩa đều đặt chữ “biết” ở giữa. Liêm sỉ không phải là chưa từng sai. Nó là cái phanh bên trong, khiến người ta đỏ mặt trước khi định làm điều đáng chê, và thấy khó chịu nếu lỡ làm rồi. Người còn liêm sỉ có thể vấp, nhưng vấp thì biết cúi đầu nhận.
Trong câu nói hằng ngày, từ này ít khi đứng một mình theo kiểu khen. Ta hiếm nghe “anh ấy rất liêm sỉ”. Ta hay nghe nó ở dạng phủ định hoặc cảnh báo:
- Ăn chặn tiền cứu trợ của người nghèo thì còn chút liêm sỉ nào nữa.
- Bà cụ dặn cháu: nghèo thì chịu, chứ đừng bán liêm sỉ lấy miếng ăn.
- Chép nguyên bài của bạn rồi nhận là của mình, đó là chuyện mất liêm sỉ.
廉恥: chữ liêm, chữ sỉ và bốn sợi dây giữ nước
Chữ liêm (廉) có nghĩa gốc là góc thềm nhà, cạnh của đồ vật, tức là chỗ có góc có cạnh rõ ràng. Từ đó mới sang nghĩa người ngay thẳng, biết phân biệt nên chăng, không lấy xằng. Thiều Chửu dẫn chữ thanh liêm làm ví dụ. Cùng gốc là liêm khiết, liêm chính. Nghĩa chữ này được giảng kĩ ở bài liêm khiết và chữ 廉潔.
Chữ sỉ (恥) gồm bộ tâm (lòng) và chữ nhĩ (tai), nghĩa là xấu hổ, lấy làm hổ thẹn, cũng có nghĩa làm nhục. Họ từ của nó dễ nhận: sỉ nhục, vô sỉ, khả sỉ (đáng hổ thẹn). Chữ này hay bị viết nhầm phụ âm đầu; bài sỉ nhục viết s hay x có cách nhớ.
Đặt hai chữ cạnh nhau thì nghĩa ghép khá tròn: liêm là không lấy cái không đáng lấy, sỉ là không làm cái không đáng làm. Sách Quản Tử, tương truyền của Quản Trọng nước Tề thời Xuân Thu, xếp lễ, nghĩa, liêm, sỉ thành “tứ duy” (四維), tức bốn sợi dây buộc giữ một quốc gia. Bốn chữ này sau được Nho gia nhắc mãi, và cách nói “lễ nghĩa liêm sỉ” theo chân sách vở Hán học vào tiếng Việt.
Liêm sỉ, lòng tự trọng và sĩ diện khác nhau ra sao?
| Từ | Trọng tâm | Hướng tới |
|---|---|---|
| Liêm sỉ | Trong sạch, biết hổ thẹn trước điều sai | Lương tâm và danh dự của mình |
| Tự trọng | Coi trọng, giữ gìn phẩm giá của bản thân | Phẩm giá, cách người khác nhìn mình một cách đúng mực |
| Sĩ diện | Giữ thể diện, sợ bị coi thường, nhiều khi chỉ ở vẻ ngoài | Ánh mắt người khác |
| Vô liêm sỉ | Mất nhân cách đến mức trơ trẽn, không còn biết ngượng | Lợi riêng, bất chấp |
Liêm sỉ và tự trọng gần nhau nhất; nhiều khi người ta dùng lẫn. Chỗ khác nằm ở chiều nhìn. Tự trọng là giữ giá trị của mình cho đúng; liêm sỉ nhấn vào cảm giác hổ thẹn khi định làm điều xấu. Bài lòng tự trọng và chữ 自重 nói rõ hơn về vế thứ nhất. Sĩ diện thì nhẹ hơn và hướng ra ngoài: người sĩ diện sợ bị chê, người có liêm sỉ sợ chính mình làm sai, dù không ai biết. Ranh giới này được bàn trong bài sĩ diện và sĩ diện hão.
Từ gần nghĩa: tiết tháo, phẩm giá, danh dự. Từ trái nghĩa: vô liêm sỉ, trơ trẽn, mặt dày, trâng tráo.
Vô liêm sỉ và chữ liêm sỉ trên mạng
Từ điển giảng vô liêm sỉ là mất nhân cách tới mức trơ trẽn, không còn biết hổ thẹn là gì. Đây là lời chê rất nặng, gần như mắng thẳng vào nhân cách. Gọi ai đó là “đồ vô liêm sỉ” trong đời thực là chuyện dễ thành cãi vã, nên dùng trong văn viết cần cân nhắc.
Trên mạng thì khác hẳn. Giới trẻ hay đem chữ này ra đùa về chính mình: “vứt liêm sỉ đi để xin quà”, “liêm sỉ rơi đâu mất rồi”, hay câu hỏi tỉnh bơ “liêm sỉ là gì, ăn được không?”. Ở đây nó chỉ là cách nói vui khi ai đó làm một việc hơi mặt dày, như năn nỉ bạn bè, khen thần tượng quá đà. Hai sắc thái này cách nhau rất xa: đùa về liêm sỉ của mình thì vô hại, chê người khác vô liêm sỉ thì không.
Ở chiều ngược lại, dân mạng chế cả một hội tưởng tượng với khẩu hiệu “Một đời liêm khiết”, gọi là trào lưu The Liems, để trêu người tự nhận mình trong sạch.
Người làm điều đáng xấu hổ mà vẫn tỉnh bơ còn bị gọi bằng lời chê rất Việt là đồ mặt mo, gắn với chuyện tấm mo cau ngày trước.
Viết đoạn văn về liêm sỉ: mấy ý để triển khai
- Hiểu khái niệm: liêm sỉ là trong sạch và biết hổ thẹn; cái phanh đạo đức nằm bên trong mỗi người.
- Biểu hiện: không gian lận khi không ai nhìn thấy; không nhận công của người khác; làm sai thì biết nhận.
- Vì sao cần: người còn liêm sỉ thì luật lệ chỉ là hàng rào cuối, chính họ đã tự dừng từ trước.
- Phê phán: lối sống bất chấp, coi việc lấy cái không phải của mình là khôn ngoan.
Liêm sỉ: hỏi ngắn đáp gọn
Vô liêm sỉ là gì?
Là không còn liêm sỉ, làm việc sai trái, đáng xấu hổ mà không biết ngượng. Đây là lời chê nặng về nhân cách, gần nghĩa với trơ trẽn, mặt dày.
Người không có liêm sỉ là người như thế nào?
Là người sẵn sàng làm điều xấu miễn có lợi: nói dối, lấy của người khác, vong ơn, rồi coi như không có chuyện gì. Dấu hiệu dễ thấy nhất là bị phát hiện mà vẫn không thấy mình sai.
Liêm sỉ hay liêm sĩ, viết thế nào?
Viết liêm sỉ, dấu hỏi. Chữ sỉ (恥) ở đây là xấu hổ, cùng chữ với sỉ nhục; còn sĩ (士) dấu ngã là người học trò, kẻ sĩ, không liên quan.
Lễ nghĩa liêm sỉ là gì?
Là bốn đức mà Nho gia coi là nền nếp của người và của nước: lễ (phép tắc), nghĩa (lẽ phải), liêm (trong sạch), sỉ (biết hổ thẹn). Sách Quản Tử gọi đó là tứ duy, bốn sợi dây giữ nước.