Lẳng lơ là tính từ chỉ người có cử chỉ, ánh mắt, lời nói tỏ ra thiếu đứng đắn, hay đưa đẩy tình tứ trong chuyện tiếp xúc giữa nam và nữ. Từ này mang sắc thái chê và xưa nay thường bị dùng cho phụ nữ. Tìm hiểu lẳng lơ nghĩa là gì cũng là tìm hiểu một lời phán xét, nên dùng nó cần dè dặt.
| Nghĩa ngắn | Thiếu đứng đắn, hay đưa tình trong quan hệ nam nữ |
| Loại từ | Tính từ; dạng rút gọn khẩu ngữ là “lẳng” |
| Sắc thái | Chê, khá nặng; gán cho một người thật dễ thành lời xúc phạm |
| Trái nghĩa | Đứng đắn, đoan trang, nết na |

Lẳng lơ nói về điều gì?
Theo từ điển, lẳng lơ là tỏ ra “lẳng”, có nhiều biểu hiện thiếu đứng đắn khi tiếp xúc với người khác giới. Các ví dụ từ điển đưa ra đều rất ngắn và đều nằm ở bề ngoài: cặp mắt lẳng lơ, ăn nói lẳng lơ, tính nết lẳng lơ. Nghĩa là từ này đánh giá cách một người liếc nhìn, nói cười, đi đứng, chứ không mô tả một hành vi cụ thể nào.
Chính vì đánh giá qua dáng vẻ nên lẳng lơ rất phụ thuộc vào người nhìn và thời đại. Một cái cười to giữa đám đông, một câu đùa với bạn khác giới, ở nơi này bị chê là lẳng lơ, ở nơi khác chỉ được coi là cởi mở. Ranh giới ấy do chuẩn mực của từng cộng đồng vạch ra, và nó dịch chuyển theo thời gian.
Cũng cần tách lẳng lơ khỏi một chữ “lẳng” đồng âm khác hẳn nghĩa: lẳng là ném mạnh, như trong câu “lẳng gói đồ lên xe”. Hai chữ chỉ giống nhau ở cách viết.
Thị Mầu, sông Hương và hai cách nhìn
Học sinh lớp 10 gặp chữ lẳng lơ trong trích đoạn chèo Thị Mầu lên chùa (vở Quan Âm Thị Kính). Phần tóm tắt vở chèo trong sách giới thiệu Thị Mầu là con gái phú ông vốn lẳng lơ. Ngay trên sân khấu, chính Mầu buông một câu hát thách thức:
Lẳng lơ đây cũng chẳng mòn
và tiếng đế từ phía người xem đáp lại: “Sao lẳng lơ thế, cô Mầu ơi!”. Câu hát của Mầu còn được chép theo vài dị bản khác nhau, nhưng ý thì giống: cô chẳng sợ mang tiếng. Bài học đặt ra hai cách nhìn trái ngược. Một bên cho rằng Thị Mầu lẳng lơ, xấu nết. Bên kia thấy ở cô một người dám bày tỏ tình cảm thật của mình giữa lễ giáo khắt khe. Gợi ý trả lời các câu hỏi của trích đoạn có ở bài soạn trích đoạn chèo Thị Mầu lên chùa.
Lên lớp 11, chữ này xuất hiện lại theo một cách bất ngờ. Trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường tả khúc ngoặt của sông Hương trước khi về biển là “nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Ở đây lẳng lơ được dùng cho một dòng sông, đi kèm “kín đáo”, và cái chê gần như biến mất, chỉ còn lại vẻ tình tứ, lưu luyến. Đó là nghĩa chuyển trong văn chương, nhờ phép nhân hóa. Đọc thêm phân tích hình tượng dòng sông ở bài soạn bút kí về dòng Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Từ chính nhân vật này, dân gian nặn ra lời mỉa oan Thị Mầu, dành cho người tự gây ra lỗi mà vẫn kêu oan để né phần đáng trách.
Lẳng lơ, lả lơi, đa tình, lăng nhăng
| Từ | Trọng tâm | Sắc thái |
|---|---|---|
| Lẳng lơ | Dáng vẻ, cử chỉ, lời nói đưa tình, bị coi là thiếu đứng đắn | Chê, khá nặng |
| Lả lơi | Dáng điệu, lời nói tình tứ, có phần buông lơi | Chê nhẹ hơn; trong thơ đôi khi chỉ là gợi cảm |
| Đa tình | Dễ rung động, giàu tình cảm | Khi khen, khi chê |
| Lăng nhăng | Quan hệ tình cảm thiếu nghiêm túc, không chung thủy | Chê, nói về hành vi chứ không về dáng vẻ |
Điểm khác dễ thấy nhất: lẳng lơ và lả lơi nói về cái người ta nhìn thấy, còn lăng nhăng nói về việc người ta làm. Một người bị chê lẳng lơ chưa chắc đã có mối quan hệ nào; ngược lại, kẻ lăng nhăng có khi lại rất đạo mạo. Đa tình thì nhẹ nhàng hơn cả, từng được dùng để khen những tâm hồn nghệ sĩ; xem bài chữ 多情 và hai sắc thái khen chê. Còn nghĩa trăng hoa của lăng nhăng được giải thích ở bài từ nghĩa linh tinh đến nghĩa trăng hoa.
Vì sao chữ lẳng lơ thường nhắm vào phụ nữ?
Lật lại các ví dụ của từ điển hay các trang văn cũ, người bị gọi là lẳng lơ gần như luôn là phụ nữ. Điều này phản chiếu chuẩn mực của xã hội xưa: người con gái phải kín đáo, nết na, còn đàn ông có những hành vi tương tự lại thường được gọi bằng những chữ dễ nghe hơn như “hào hoa”, “phong lưu”. Bài nghị luận về định kiến giới có thể dùng chính sự chênh lệch trong cách gọi tên ấy làm dẫn chứng.
Với người viết văn, có một lời dặn thực tế: khi phân tích nhân vật, hãy tả hành động trước rồi mới dán nhãn. Viết “Thị Mầu nấp chờ rồi chạy theo nắm tay tiểu Kính” cho người đọc tự thấy, thường thuyết phục hơn câu “Thị Mầu rất lẳng lơ”. Và trên mạng, gắn chữ này cho một người thật, nhất là người mình không quen, rất dễ biến thành lời bôi nhọ.
Dùng chữ lẳng lơ sao cho đúng mực
Lẳng lơ là khen hay chê?
Trong lời nói hằng ngày, lẳng lơ là chê và khá nặng. Chỉ trong văn chương, khi đi với những chữ làm mềm như “kín đáo” hoặc dùng cho cảnh vật, nó mới mang nét tình tứ đáng yêu, như cách Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về sông Hương.
Ánh mắt lẳng lơ là ánh mắt thế nào?
Thường là cái nhìn liếc ngang, đưa đẩy, như cố ý gây chú ý với người khác giới. Đây là cách tả quen trong truyện xưa để báo trước một nhân vật lả lơi, nhưng nó vẫn là cảm nhận của người kể chứ không phải sự thật về nhân vật.
Lẳng lơ có dùng cho nam giới không?
Có thể dùng, nhưng hiếm. Thói quen ngôn ngữ gắn từ này với phụ nữ; với nam giới, người ta hay chọn những chữ khác như trăng hoa, lăng nhăng, hoặc nói tránh là “đào hoa”.
Lẳng lơ tiếng Anh là gì?
Có thể dịch là flirtatious hoặc coquettish, cả hai đều nói về vẻ đưa tình. Chữ tiếng Anh nhẹ hơn nhiều so với sắc thái chê trong tiếng Việt, nên khi dịch cần cân nhắc ngữ cảnh.