Cầm kỳ thi họa là bốn môn nghệ thuật tao nhã của người có học thời xưa: chơi đàn (cầm), đánh cờ (kỳ), làm thơ (thi) và vẽ tranh (họa). Khen ai “cầm kỳ thi họa đủ cả” là khen người ấy đa tài, phong nhã. Thành ngữ này cũng hay được viết là cầm kì thi họa.
| Nghĩa ngắn | Đàn, cờ, thơ, tranh: bốn thú chơi nghệ thuật của người tài hoa xưa |
| Chữ Hán | 琴棋詩畫 (bản Trung Hoa phổ biến: 琴棋書畫, chữ thứ ba là “thư” – thư pháp) |
| Loại từ | Thành ngữ Hán Việt, dùng như danh từ |
| Sắc thái | Khen ngợi, trang trọng, mang màu cổ điển |

Cầm kỳ thi họa: bốn chữ, bốn thú chơi
Thành ngữ ghép bốn chữ Hán Việt, mỗi chữ là tên một môn:
- Cầm (琴): cây đàn. Gốc là đàn cổ cầm bảy dây của giới văn nhân, về sau chỉ việc chơi đàn nói chung.
- Kỳ (棋): cờ. Trong bộ bốn môn này, cờ được hiểu chủ yếu là cờ vây, loại cờ coi trọng mưu tính dài hơi.
- Thi (詩): thơ, việc làm thơ, ngâm thơ.
- Họa (畫): tranh vẽ, thường là tranh thủy mặc vẽ bằng bút lông và mực.
Gộp lại, cầm kỳ thi họa là thước đo vẻ tài hoa của một người theo quan niệm cũ. Thời phong kiến, nó vừa dùng cho bậc văn nhân, vừa dùng để khen những tiểu thư khuê các được dạy dỗ chu đáo. Đến giờ cụm từ vẫn sống, nhưng thường mang nghĩa rộng: chỉ người giỏi nhiều môn nghệ thuật, hoặc dùng vui khi ai đó “biết tuốt”.
Ví dụ: Cô ấy học piano từ bé, vẽ màu nước đẹp, lại làm thơ hay, đúng là cầm kỳ thi họa đủ cả.
Nàng Kiều giỏi mấy trong bốn môn?
Học sinh lớp 9 gặp quan niệm này rõ nhất ở đoạn Nguyễn Du tả tài của Thúy Kiều:
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Ngay sau đó là câu khen tiếng đàn hồ cầm của nàng hơn hẳn mọi người. Như vậy chỉ trong vài dòng, Kiều đã có đủ cầm, thi, họa, cộng thêm ca hát. Nguyễn Du đo tài Kiều đúng bằng thước của thời mình, và chọn tài đàn làm nét nổi nhất, vì tiếng đàn ấy sẽ còn theo nàng suốt truyện. Phần soạn và phân tích có ở bài đoạn Nguyễn Du tả tài sắc hai chị em Kiều; muốn hiểu thêm vì sao người xưa xếp chữ “giai nhân” đi liền với tài năng, xem chuyện tài tử giai nhân thời xưa.
Thi hay thư: chữ thứ ba khác nhau
Người Trung Hoa gọi bộ bốn môn này là “tứ nghệ” và thường viết 琴棋書畫, đọc theo âm Hán Việt là cầm kỳ thư họa. Chữ thứ ba ở đây là thư 書, tức thư pháp, nghệ thuật viết chữ bằng bút lông. Theo các tài liệu về lịch sử khái niệm này, văn bản sớm nhất gom đủ bốn môn vào một chỗ là một sách bàn về thư pháp thời Đường, dù từng môn riêng lẻ đã được coi trọng từ lâu trước đó.
Sang tiếng Việt, cách nói quen miệng lại là cầm kỳ thi họa, với chữ thi 詩 là thơ. Có lẽ vì với người Việt, làm thơ, xướng họa thơ là thú chơi gần gũi hơn thư pháp chữ Hán. Hai cách nói đều có trong sách vở, nhưng khi đọc báo, nghe ca dao hay đọc văn, gần như ai cũng gặp “thi” chứ không phải “thư”. Người Nhật cũng có bộ bốn môn tương tự, với đàn koto thay cho đàn cầm.
Cầm kỳ thi họa khác công dung ngôn hạnh thế nào?
Hai thành ngữ bốn chữ này hay bị đặt chung khi nói về người phụ nữ xưa, nhưng đo hai thứ khác nhau.
| Cụm từ | Đo cái gì | Dùng cho ai |
|---|---|---|
| Cầm kỳ thi họa | Tài năng nghệ thuật, vẻ phong nhã | Văn nhân, tiểu thư; nay dùng cho mọi người đa tài |
| Công dung ngôn hạnh | Đức hạnh và nết na theo chuẩn Nho giáo | Phụ nữ thời phong kiến |
| Nữ công gia chánh | Khéo việc nhà: nấu nướng, may vá, vun vén | Phụ nữ, nay dùng rộng hơn |
Nói cách khác, một người có thể giỏi cầm kỳ thi họa mà vụng việc bếp núc, và ngược lại. Hai cụm sau có bài giải nghĩa riêng: bốn đức công dung ngôn hạnh và những việc khéo tay gọi là nữ công gia chánh.
Gần nghĩa với cầm kỳ thi họa có tài hoa, đa tài, tài tử (theo nghĩa cũ). Trái nghĩa là vô tài, tầm thường, hay nói nôm là “chẳng biết món gì”. Khi viết, nên giữ nguyên thứ tự bốn chữ; đảo thành “thi họa cầm kỳ” nghe lạ tai và dễ bị coi là viết sai.
Bốn môn ấy còn hợp với hôm nay?
Cầm kỳ thi họa nghĩa là gì trong lời khen ngày nay?
Là khen một người giỏi nhiều môn nghệ thuật cùng lúc, hoặc nói vui về người “món gì cũng biết”. Không ai đòi người được khen phải chơi đúng đàn cổ cầm hay cờ vây; chỉ cần đa tài là đủ.
Cầm kỳ thi họa tiếng Trung viết thế nào?
Thường viết 琴棋書畫 (giản thể 琴棋书画), đọc theo âm Hán Việt là “cầm kỳ thư họa”, chữ thứ ba là thư pháp. Cách viết 琴棋詩畫 với chữ “thi” là thơ phổ biến hơn trong tiếng Việt.
Viết cầm kỳ hay cầm kì mới đúng?
Cả hai đều được chấp nhận vì “i” và “y” sau phụ âm k vẫn đang được dùng song song. Sách giáo khoa hiện nay nghiêng về “kì”, còn nhiều báo và sách cũ viết “kỳ”; chỉ cần thống nhất một cách trong cùng bài.
Đủ mùi ca ngâm nghĩa là gì?
Là thạo đủ các lối ca hát, ngâm thơ. Cụm này lấy từ câu Kiều “Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm”, nên nhiều người nói gộp “cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm” để khen một người tài nghệ toàn diện.