Keo kiệt là giữ tiền của quá chặt, tiếc từng đồng đến mức không chịu chi cả những khoản nên chi, nhất là khi khoản ấy dành cho người khác. Đây là tính từ mang ý chê, nặng hơn hà tiện một bậc. Trong lời nói hằng ngày, người ta còn rút gọn thành keo hoặc gọi đùa là ki bo: “Ông ấy keo lắm, mời cốc trà đá cũng tính.”
| Nghĩa ngắn | Bo bo giữ của, tiếc tiền đến mức quá đáng |
| Loại từ | Tính từ; “thói keo kiệt”, “người keo kiệt” |
| Sắc thái | Chê, khá nặng; nói thẳng vào mặt dễ mất lòng |
| Đồng nghĩa | Bủn xỉn, keo, ki bo, hà tiện (nhẹ hơn) |
| Trái nghĩa | Hào phóng, rộng rãi, phóng khoáng |

Người keo kiệt tiếc tiền cho ai?
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học lấy chính chữ hà tiện để giảng: keo kiệt là hà tiện đã tới mức quá quắt, chỉ còn biết giữ của. Wiktionary tiếng Việt giảng gần như vậy và xếp bủn xỉn, keo, hà tiện vào cùng hàng đồng nghĩa. Từ điển còn ghi một dạng ít gặp là keo kiết, nghĩa không khác.
Điều đáng để ý là hướng của cái tiếc. Người hà tiện hay khắt khe với chính mình: áo sờn vẫn mặc, bệnh nhẹ không đi khám. Người keo kiệt thì thường bị gọi tên khi phải chia phần cho người khác. Lương thưởng của nhân viên, tiền mừng đám cưới bạn thân, bữa cơm mời khách, khoản góp chung của nhóm: ở những chỗ đó cái keo lộ ra rõ nhất.
- Chủ quán keo kiệt đến mức cắt đôi tờ giấy ăn để bàn nào cũng “đủ”.
- Đi ăn chung, cậu ấy lần nào cũng quên ví, cả nhóm bắt đầu thấy cậu keo kiệt.
- Bà không keo kiệt đâu, bà chỉ tiếc tiền cho mình, còn cháu xin gì cũng cho.
Câu thứ ba cho thấy người ta hay dùng chữ này sai đối tượng. Một người chắt bóp cho bản thân mà rộng tay với con cháu thì chưa gọi là keo kiệt được.
Rán sành ra mỡ và những ông chủ bo bo giữ của
Dân gian có sẵn mấy hình ảnh để chê thói keo. Rán sành ra mỡ là một: sành là đồ gốm nung cứng, đem rán thì không bao giờ ra được giọt mỡ nào, vậy mà có người vẫn cố. Thành ngữ này chế giễu kẻ keo tới mức muốn bòn lợi cả ở chỗ không thể có. Cùng nghĩa là vắt cổ chày ra nước, cái chày giã gạo khô khốc mà cũng định vắt cho ra nước.
Câu thành ngữ sau trở thành nhan đề một truyện cười dân gian mà học sinh lớp 8 được học. Ông chủ trong truyện đắn đo từng đồng trả cho người làm, còn nhân vật ở câu chuyện đi kèm thì tiếc cả việc mòn đế giày. Tiếng cười bật ra từ chỗ người keo tưởng mình khôn, hóa ra tự làm khổ mình. Bố cục và ý nghĩa của hai truyện được tóm ở trang giới thiệu hai truyện cười về người hám của.
Keo, ki bo, bủn xỉn: mỗi chữ một mức nặng nhẹ
| Từ | Sắc thái | Câu ví dụ |
|---|---|---|
| Tiết kiệm | Khen; chi đúng mức, không phí | Cả lớp tiết kiệm quỹ để cuối năm đi dã ngoại |
| Hà tiện | Chê nhẹ; dè sẻn quá tay, hay với chính mình | Ông hà tiện đến mức không chịu thay bóng đèn |
| Keo kiệt | Chê nặng; bo bo giữ của, nhất là với người khác | Giàu có mà keo kiệt với cả người giúp việc |
| Bủn xỉn | Chê nặng; tiếc cả khoản nhỏ nhặt | Bủn xỉn từng gói bánh với em |
| Keo, ki bo | Khẩu ngữ, nhiều khi nói đùa giữa bạn bè | Ki bo thế, cho miếng thôi mà |
Ranh giới giữa hà tiện và keo kiệt không phải lúc nào cũng rõ, nên đọc thêm bài giải nghĩa chữ hà tiện sẽ thấy hai từ đứng sát nhau thế nào trên cùng một bậc thang. Đầu kia của bậc thang là tiết kiệm, một lời khen; chỗ nó tách khỏi thói keo được bàn ở bài ranh giới giữa tiết kiệm và hà tiện.
Gần nghĩa nhưng khác hướng còn có nhỏ nhen, nhỏ mọn: hai từ này nói về lòng dạ hẹp hòi, hay chấp vặt, không nhất thiết dính tới tiền. Phía trái nghĩa là hào phóng, rộng rãi; quá đà thì thành hoang phí.
Người hay lẫn keo kiệt với thói muốn vơ thêm phần của người khác có thể đối chiếu nhóm từ tham, hám, ham hố ở đồng nghĩa, trái nghĩa với tham lam.
Người keo kiệt tiếc chữ cho; còn chính động từ ấy đổi thành tặng, biếu, ban hay đối với nhận, xin ra sao, xem đồng nghĩa, trái nghĩa với cho.
Đoạn văn phân biệt keo kiệt với tiết kiệm
Đề “Viết đoạn văn trình bày sự khác nhau giữa keo kiệt và tiết kiệm” hay gặp ở bậc THCS. Có thể dựa vào ba câu hỏi để chia ý:
- Giữ tiền để làm gì? Người tiết kiệm để dành cho một mục tiêu: mua sách, phòng lúc ốm đau. Người keo kiệt giữ vì sợ mất, giữ cho có.
- Khi cần chi thì sao? Người tiết kiệm vẫn chi cho việc đáng, như thăm người ốm, góp quỹ lớp. Người keo kiệt né cả những khoản ấy.
- Người xung quanh cảm thấy gì? Ở cạnh người tiết kiệm, ta học được nếp sống chừng mực. Ở cạnh người keo kiệt, ta thấy mình bị tính toán.
Câu kết nên gọn và cụ thể, ví dụ: “Cùng một tờ tiền gấp gọn trong ví, người tiết kiệm biết lúc nào mở ra, còn người keo kiệt thì quên mất là ví có khóa kéo.”
Keo kiệt trong túi tiền và trong cư xử
Người keo kiệt là người như thế nào?
Là người tiếc tiền tới mức bỏ qua cả những khoản đáng chi, nhất là khoản dành cho người khác: không góp phần chung, trả công người làm thật bèo, đi ăn thì tránh trả tiền. Họ thường không nghèo, cái khó nằm ở thói quen giữ của.
Keo kiệt và tiết kiệm khác nhau ở đâu?
Tiết kiệm là chi tiêu có kế hoạch và vẫn sẵn lòng chi cho việc đáng. Keo kiệt là giữ của quá mức, đến nỗi làm thiệt người khác hoặc chính mình. Một từ là lời khen, từ kia là lời chê.
Keo kiệt tiếng Anh là gì?
Tính từ thường dùng là stingy hoặc tight-fisted. Trong lời nói thân mật, người keo kiệt được gọi là cheapskate.
Viết keo kiệt hay keo kiết mới đúng?
Cả hai đều có trong từ điển, nhưng keo kiệt (dấu nặng) là dạng phổ biến; keo kiết được ghi là ít dùng. Khi viết bài, chọn keo kiệt là an toàn nhất.
Gần mà khác keo kiệt là thói ăn mảnh: không hẳn tiếc tiền, mà là lén hưởng một mình phần ngon, phần lợi lẽ ra phải chia cho cả nhóm.