Hy vọng là tin và mong rằng một điều tốt đẹp sẽ đến, dù lúc này nó chưa thành. Từ này dùng được như động từ (hy vọng mai trời tạnh) lẫn danh từ (niềm hy vọng, nuôi hy vọng). Người tra “hy vọng nghĩa là gì” hay “hi vọng là gì” thực ra đang hỏi cùng một từ: hai cách viết, một nghĩa.
| Nghĩa ngắn | Tin tưởng và mong chờ điều tốt đẹp sẽ xảy ra |
| Gốc từ | Hán Việt 希望: hi (mong, cũng có nghĩa là hiếm) + vọng (trông ra xa) |
| Loại từ | Động từ; danh từ khi nói “niềm hy vọng”, “một tia hy vọng” |
| Trái nghĩa | Thất vọng, tuyệt vọng, vô vọng |

Hy vọng 希望: chữ hiếm và chữ trông xa
Chữ hi (希) trong từ điển của Thiều Chửu có hai nghĩa chính. Nghĩa thứ nhất là ít, hiếm, còn gặp trong hi hữu (hiếm có). Nghĩa thứ hai là mong cầu, chính là nghĩa đi vào hy vọng.
Chữ vọng (望) có nghĩa đầu là trông ra xa. Từ đó mới có nghĩa ngóng, mong; có cả nghĩa tiếng tăm khiến người khác ngước nhìn như trong danh vọng, uy vọng. Ngày rằm âm lịch cũng gọi là ngày vọng, lúc mặt trăng và mặt trời đứng đối diện nhau. Cả một họ từ quen thuộc chung chữ này: kỳ vọng, nguyện vọng, khát vọng, thất vọng, tuyệt vọng, và tên hòn đá Vọng Phu, người vợ đứng trông chồng.
Đặt hai chữ cạnh nhau sẽ được một hình ảnh dễ nhớ: ta ngóng về phía trước một điều chưa có trong tay. Cái được mong thường là thứ hiếm hoi, nên mới phải trông.
Hy vọng dùng trong câu ra sao?
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, hy vọng nghĩa là tin rằng điều tốt sẽ tới và chờ đợi nó; khi làm danh từ, nó chỉ chính niềm tin và sự mong chờ ấy. Trong nói viết thường ngày có thể thấy ba cách dùng.
- Động từ, có người mong: Cả đội hy vọng trận sau sẽ gỡ lại.
- Danh từ, chỉ điều được mong: Lá thư báo trúng tuyển là hy vọng cuối cùng của mùa hè ấy.
- Danh từ, chỉ người mang lại niềm tin: Con bé là hy vọng của cả nhà.
Trong thư từ, “hy vọng” còn là cách nói mềm cho một lời nhờ: Hy vọng anh chị thông cảm nghe nhã nhặn hơn “anh chị phải thông cảm”. Cũng vì thế mà người ta hay ghép tràn trề hy vọng, le lói hy vọng, dập tắt hy vọng, đo niềm mong ấy bằng ánh sáng.
Về cách viết, cả “hi vọng” và “hy vọng” đều được chấp nhận; chi tiết có ở bài hi vọng và hy vọng viết thế nào.
Hy vọng, kỳ vọng, ước mơ khác nhau ở đâu?
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Hy vọng | Mong một điều chưa chắc, kèm niềm tin nó có thể thành | Hy vọng chuyến bay không bị hoãn |
| Kỳ vọng | Đặt mong đợi lên một người, một việc; thường có mức cụ thể và sức nặng | Bố mẹ kỳ vọng con đỗ trường chuyên |
| Ước mơ | Hình dung một điều mình muốn, có khi rất xa | Ước mơ thành phi công |
| Ảo vọng | Hy vọng không có cơ sở, khó thành | Ảo vọng giàu nhanh |
| Thất vọng / tuyệt vọng | Hy vọng bị hụt / không còn chút hy vọng nào | Thất vọng vì điểm thi; tuyệt vọng giữa biển |
Chỗ hay lẫn nhất là hy vọng và kỳ vọng. Hy vọng hướng về kết quả, còn kỳ vọng hướng về người phải làm ra kết quả, nên kỳ vọng dễ thành áp lực. Phần này được bàn kĩ hơn trong bài mong đợi đặt lên vai người khác. Còn giữa thất vọng và tuyệt vọng là khoảng cách giữa “lần này hỏng” và “chẳng còn lần nào”.
Khi cần từ thay cho hy vọng trong bài viết và ba nấc trái nghĩa từ thất vọng đến tuyệt vọng, đọc thêm đồng nghĩa, trái nghĩa với hi vọng.
Con đường trong Cố hương
Cuối truyện Cố hương, Lỗ Tấn để nhân vật “tôi” ngồi trên thuyền rời quê và nghĩ về hy vọng. Ý của đoạn ấy, kể lại bằng lời khác: hy vọng không hẳn là có thật hay không có thật; nó giống con đường trên mặt đất, vốn chẳng có sẵn, người đi nhiều thì thành đường. Hình ảnh này đặt hy vọng vào bước chân chứ không vào sự chờ đợi. Toàn văn và câu hỏi SGK có ở bài soạn truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn.
Thơ Việt cũng có cả một bài mang tên Hy vọng của Nguyễn Khoa Điềm, đọc cạnh Cố hương sẽ thấy hai cách nhìn khác nhau về cùng một chữ.
Gợi ý viết đoạn nghị luận về niềm hy vọng
Đề “Suy nghĩ về niềm hy vọng trong cuộc sống” hay gặp ở THCS và lớp 10. Một khung gọn:
- Giải thích: hy vọng là tin và mong điều tốt đẹp khi hoàn cảnh chưa thuận.
- Phân biệt: hy vọng khác mơ mộng suông ở chỗ nó đi kèm việc làm. Người nộp hồ sơ rồi chờ kết quả đang hy vọng; người không nộp mà vẫn chờ thì đang ảo tưởng.
- Vì sao cần: nó giữ người ta ở lại với việc khó, nhất là trong ốm đau, thi cử, làm lại sau thất bại.
- Mặt trái: hy vọng đặt sai chỗ có thể khiến người ta chậm buông một việc vô ích; đừng nhầm cố chấp với kiên trì.
Dẫn chứng nên tự chọn từ chuyện thật quanh mình. Một bài viết lấy hình ảnh con đường của Lỗ Tấn làm câu kết thường gọn và có sức nặng hơn một câu danh ngôn chép lại.
Niềm hy vọng trong mấy tình huống thường gặp
Niềm hy vọng là gì?
Là cách gọi hy vọng khi nó thành danh từ: cái niềm tin và mong chờ mà một người đang mang trong lòng. Người ta nói nuôi, giữ, nhen nhóm hay đánh mất niềm hy vọng, như nói về một ngọn lửa.
Hy vọng tiếng Anh là gì?
Từ tương ứng là hope, vừa là động từ vừa là danh từ. Khi muốn nói mong đợi có mức cụ thể, gần với “kỳ vọng”, tiếng Anh dùng expectation.
Hy vọng có phải là lạc quan không?
Gần nhau nhưng không trùng. Lạc quan là một thói quen nhìn mọi việc về phía sáng; hy vọng gắn với một điều cụ thể đang chờ. Người bi quan vẫn có thể hy vọng vào một kết quả nào đó.
Không còn hy vọng thì gọi là gì?
Là tuyệt vọng, hoặc vô vọng nếu nói về tình thế chứ không nói về tâm trạng: cuộc tìm kiếm vô vọng, một người tuyệt vọng.