Học là thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng do người khác truyền lại hoặc từ sách vở; ở nét nghĩa hẹp hơn, học là đọc đi đọc lại, nghiền ngẫm cho nhớ. Đó là câu trả lời của từ điển khi ai đó hỏi học nghĩa là gì. Còn học để làm gì thì mỗi thời trả lời một kiểu, và cách trả lời được nhắc nhiều nhất là bốn trụ cột học tập của UNESCO.
| Nghĩa ngắn | Tiếp nhận hiểu biết, rèn kĩ năng; ôn cho thuộc |
| Loại từ | Động từ (học nghề, học bài); còn là yếu tố ghép chỉ ngành tri thức (văn học) |
| Chữ Hán | 學, nghĩa gốc là bắt chước điều được dạy |
| Đối lập | dạy (chiều ngược của cùng một việc); bỏ học, lười học |

Từ điển chia chữ học thành mấy nét nghĩa
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên xếp học vào nhóm động từ, với hai nét nghĩa chính. Nét thứ nhất rộng: thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng mà người khác truyền lại, như học nghề, học đàn. Nét thứ hai gần với bài vở của học trò: đọc đi đọc lại cho nhớ, như học thuộc lòng.
Đứng sau một chữ khác, học lại thành tên một ngành: văn học, sử học, tâm lí học. Ở vị trí này nó không còn là hành động mà là “môn”, “khoa”. Riêng phương ngữ Nam Bộ còn dùng học với nghĩa mách lại, kể lại chuyện của ai đó.
Chữ 學 và ý “bắt chước người dạy mình”
Chữ Hán của học là 學 (giản thể 学). Thiều Chửu giảng nghĩa đầu tiên là chịu nghe người ta dạy bảo rồi bắt chước làm theo; các nghĩa sau là chỗ học (học đường 學堂) và sự nghiên cứu đến tận gốc ngọn một vấn đề (học thuật 學術, khoa học 科學).
Nghĩa “bắt chước” nghe có vẻ thấp, nhưng rất đúng với cách con người học: đứa trẻ tập nói bằng cách nhại người lớn, người học nghề bắt đầu bằng việc làm theo tay thợ cả. Sách Luận ngữ mở đầu bằng câu của Khổng Tử: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” — học rồi thường xuyên ôn luyện, chẳng phải là điều vui sao. Chữ tập 習 đi cùng chữ học từ đó, thành từ học tập ta dùng hằng ngày.
Học tập, học hỏi, học hành: anh em nhưng không giống hệt
| Từ | Sắc thái | Ví dụ |
|---|---|---|
| học tập | trang trọng, việc học có hệ thống | kết quả học tập học kì I |
| học hỏi | học từ người khác, từ trải nghiệm | học hỏi anh chị khóa trên |
| học hành | khẩu ngữ, chuyện đi học nói chung | lo cho con học hành |
Không có từ trái nghĩa thật chặt với học. Người ta hay đặt nó cạnh dạy (hai đầu của một việc) hoặc lười học, dốt (khi nói đến thái độ và kết quả). Ông bà ta gói chuyện này vào những câu như “Không thầy đố mày làm nên”, “Học thầy không tày học bạn”; đọc thêm trong tuyển tục ngữ, thành ngữ về chuyện học hành.
Muốn biết học tập thay được bằng từ nào trong từng kiểu câu, kể cả nghĩa noi gương, hãy đọc đồng nghĩa, trái nghĩa với học tập.
Học để làm gì: bốn trụ cột của báo cáo Delors
Năm 1996, Ủy ban quốc tế về giáo dục cho thế kỉ XXI do Jacques Delors làm chủ tịch trình UNESCO báo cáo Learning: The Treasure Within (thường dịch là Học tập: Kho báu tiềm ẩn). Báo cáo cho rằng việc học suốt đời dựa trên bốn trụ cột:
- Học để biết: có công cụ để hiểu thế giới và tự tìm kiến thức.
- Học để làm: biến hiểu biết thành năng lực làm việc.
- Học để chung sống: hiểu người khác, biết hợp tác.
- Học để làm người, có tài liệu dịch là “học để khẳng định mình”: phát triển trọn vẹn bản thân.
Chỉ vế đầu nói về kiến thức; ba vế còn lại nói về việc làm, quan hệ với người khác và nhân cách. Học vì thế không dừng ở điểm số, cũng như những gì tự mình trải qua chỉ thành bài học khi được suy ngẫm.
Trụ cột học để biết gắn chặt với khả năng tự đi tìm kiến thức, điều được bàn riêng khi nói về tinh thần tự học.
Câu “Học, học nữa, học mãi” thật ra từ đâu?
Câu này của Lênin, nhưng nhiều người nhớ sai chỗ. Nguyên văn tiếng Nga lặp ba lần chữ “học”, nằm trong một bài Lênin viết cuối năm 1899, đến năm 1924 mới được in. Không ít tài liệu lại bảo câu ấy ở bài nói với Đoàn thanh niên năm 1920; thực tế bài nói đó không có câu lặp ba lần như vậy. “Học, học nữa, học mãi” là lối dịch quen thuộc của người Việt.
Viết đoạn nghị luận về việc học: ý chính và bài đọc gợi ý
- Học là thu nhận và luyện tập: chữ 學 là bắt chước, chữ 習 là tập lại nhiều lần; thiếu vế sau thì kiến thức trôi đi nhanh.
- Học cho mình trước khi học cho điểm: dẫn bốn trụ cột của UNESCO.
- Học không có điểm dừng: bài mẫu “Học không dừng ở cổng trường” trong bộ đề nghị luận xã hội Ngữ văn 11 đi theo hướng này.
Dẫn chứng sách vở gần nhất là Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm, nơi đọc sách được coi là con đường tích lũy học vấn; xem cách triển khai trong các bài văn mẫu về tác phẩm của Chu Quang Tiềm.
Thắc mắc thường gặp quanh chữ học
Học nghĩa là gì trong tiếng Hán Việt?
Chữ 學 có nghĩa gốc là nghe người dạy rồi bắt chước làm theo, sau mở rộng thành chỗ học và sự nghiên cứu một ngành tri thức, nên mới có học đường, học thuật, khoa học.
Học để làm gì?
Theo báo cáo Delors (UNESCO, 1996), học để biết, để làm, để chung sống và để làm người. Biết mà không làm được, hay giỏi việc mà không sống được với ai, đều là học chưa trọn.
Học là gì trong bài văn nghị luận?
Mở bằng nghĩa từ điển (thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng), rồi nâng thành quan niệm: học là quá trình tự hoàn thiện kéo dài cả đời. Phần bàn luận dựa vào bốn trụ cột, phần dẫn chứng lấy từ người thật việc thật hoặc tác phẩm đã học.
“Học, học nữa, học mãi” có phải câu của Lênin không?
Có. Câu gốc tiếng Nga nằm trong một bài Lênin viết năm 1899, in năm 1924; bản tiếng Việt là cách dịch thoát ý.
Học tập là gì?
Từ điển giảng học tập (學習) có hai nghĩa: học và luyện tập để hiểu biết, có kĩ năng; và noi theo gương tốt của người khác, như trong câu học tập tấm gương các anh hùng. So với chữ học đứng riêng, học tập trang trọng hơn và nói về việc học có hệ thống, nên hay gặp trong các cụm như kết quả học tập, tinh thần học tập.