Soạn bài Việt Bắc (Tố Hữu) theo sách Ngữ văn 12 Cánh diều, tập một, Bài 4 (trang 117 – 121). Bài soạn trả lời đầy đủ phần chuẩn bị, 7 câu hỏi trong khi đọc và 6 câu hỏi sau khi đọc, có dẫn chứng từ văn bản để các em dễ học và tự kiểm tra. Do bài thơ còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, các câu thơ chỉ được trích ngắn khi làm dẫn chứng; em nên đọc toàn văn trong SGK.
Chuẩn bị đọc bài thơ Việt Bắc
Phần Chuẩn bị (trang 117) yêu cầu học sinh ôn lại kiến thức về thơ trữ tình hiện đại, đọc trước văn bản và tìm hiểu về nhà thơ Tố Hữu cùng hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Yêu cầu chuẩn bị (trang 117)
Xem lại phần Kiến thức ngữ văn; khi đọc thơ trữ tình hiện đại, chú ý nhan đề, thể loại, bố cục, giọng điệu, nhân vật trữ tình, hình ảnh, ngôn từ. Đọc trước văn bản Việt Bắc, tìm hiểu thêm về nhà thơ Tố Hữu và hoàn cảnh sáng tác.
Trả lời:
Về tác giả: Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê làng Phù Lai, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông giác ngộ cách mạng từ tuổi học trò, sớm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành nhà thơ lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Các tập thơ chính: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta. Thơ ông mang khuynh hướng trữ tình – chính trị, giọng điệu tâm tình ngọt ngào, đậm đà tính dân tộc. Xem thêm: tiểu sử nhà thơ Tố Hữu và phong cách sáng tác của Tố Hữu.
Về hoàn cảnh sáng tác: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5/1954) và Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954), hòa bình lập lại ở miền Bắc. Tháng 10/1954, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ và những người kháng chiến rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Nhân sự kiện này, Tố Hữu viết bài thơ Việt Bắc (150 câu lục bát), in trong tập thơ cùng tên.
Về hình thức: nhan đề là tên vùng căn cứ địa cách mạng – “quê hương cách mạng”; thể thơ lục bát; bài thơ tổ chức theo lối đối đáp giữa “mình” và “ta”; giọng điệu tha thiết, ngọt ngào, có lúc hào hùng. Nhân vật trữ tình là người ra đi (cán bộ kháng chiến) và người ở lại (đồng bào Việt Bắc).
Trả lời câu hỏi trong khi đọc Việt Bắc
Các câu hỏi dưới đây nằm ở cột bên phải văn bản trong SGK, gắn với từng đoạn thơ.
Câu 1: “Mình”, “ta” trong bốn dòng thơ đầu là những ai? (trang 118)
Trả lời:
Trong bốn dòng thơ đầu, lời hỏi thuộc về người ở lại. “Mình” là người cán bộ, chiến sĩ kháng chiến sắp rời Việt Bắc về xuôi; “ta” là người dân Việt Bắc ở lại. Điều này thể hiện qua cụm từ “mình về” và câu hỏi “có nhớ ta”, “có nhớ không” – người ở lại lo người đi sẽ quên những năm tháng gắn bó.
Câu 2: Người ở lại đang gợi nhắc những kỉ niệm nào? (trang 118)
Trả lời:
Người ở lại gợi nhắc liên tiếp nhiều kỉ niệm bằng chuỗi câu hỏi “Mình đi, có nhớ…”, “Mình về, có nhớ…”:
- Thiên nhiên khắc nghiệt của chiến khu: mưa nguồn, suối lũ, mây mù.
- Cuộc sống gian khổ mà nặng nghĩa: miếng cơm chấm muối, mối thù chung “nặng vai”.
- Núi rừng như cũng nhớ người: trám bùi để rụng, măng mai để già.
- Những mái nhà nghèo “hắt hiu lau xám” mà “đậm đà lòng son”.
- Kỉ niệm lịch sử: thời kháng Nhật, thuở còn Việt Minh; Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Câu 3: Những kỉ niệm nào đã sống lại theo nỗi nhớ của nhân vật trữ tình? (trang 119)
Trả lời:
Người ra đi đáp lại bằng nỗi nhớ tha thiết, được so sánh “như nhớ người yêu”. Những kỉ niệm sống lại gồm:
- Thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản làng trong khói sương, rừng nứa bờ tre, Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê.
- Tình nghĩa quân dân trong gian khó: chia nhau củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
- Hình ảnh người mẹ nắng cháy lưng địu con lên rẫy bẻ bắp ngô.
- Sinh hoạt kháng chiến: lớp học i tờ, những giờ liên hoan, ngày tháng cơ quan gian nan mà vẫn ca vang, tiếng mõ rừng chiều, tiếng chày đêm nện cối.
Câu 4: Hãy tưởng tượng bức tranh thiên nhiên và con người trong đoạn thơ này (trang 120)
Trả lời:
Đây là đoạn “bộ tứ bình” nổi tiếng, mở đầu bằng lời người về: “Ta về, mình có nhớ ta / Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”. Mỗi cặp câu là một bức tranh, câu sáu chữ vẽ thiên nhiên, câu tám chữ vẽ con người:
- Mùa đông: giữa rừng xanh bật lên sắc hoa chuối đỏ tươi như ngọn đuốc; trên đèo cao, người đi rừng giắt dao thắt lưng, lưỡi dao lóe nắng – con người hiện lên ở tư thế làm chủ núi rừng.
- Mùa xuân: hoa mơ nở trắng rừng, tinh khôi; người đan nón chuốt từng sợi giang, cần mẫn, khéo léo.
- Mùa hè: ve kêu, rừng phách đổ vàng – bức tranh có cả âm thanh và màu sắc chuyển động; cô em gái hái măng một mình, gợi vẻ đẹp chăm chỉ, hồn hậu.
- Mùa thu: trăng rọi hòa bình qua tán rừng; tiếng hát ân tình thủy chung ngân lên.
Thiên nhiên làm nền cho con người, con người làm đẹp thêm cho thiên nhiên. Em có thể hình dung một bức tranh bốn mùa rực rỡ, trong đó người Việt Bắc bình dị mà đẹp đẽ, gắn bó với kháng chiến.
Câu 5: Những địa danh lịch sử và không khí chiến đấu, chiến thắng đã được tái hiện thế nào qua những vần thơ lục bát này? (trang 120)
Trả lời:
- Cả núi rừng cùng đánh giặc: “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”, núi “giăng thành lũy sắt dày”, rừng “che bộ đội”, “vây quân thù” – biện pháp nhân hóa biến thiên nhiên thành đồng đội.
- Không khí hành quân sôi nổi: “Những đường Việt Bắc của ta / Đêm đêm rầm rập như là đất rung / Quân đi điệp điệp trùng trùng / Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.” Từ láy “rầm rập”, “điệp điệp trùng trùng”, phép so sánh “như là đất rung” và hình ảnh “ánh sao đầu súng” tạo nên âm hưởng sử thi, vừa hùng tráng vừa lãng mạn.
- Sức mạnh của nhân dân: dân công đỏ đuốc từng đoàn, “bước chân nát đá” (nói quá); đèn pha bật sáng “như ngày mai lên” – ánh sáng của niềm tin chiến thắng.
- Các địa danh lịch sử được liệt kê dồn dập: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Cao – Lạng, Nhị Hà; rồi Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, đèo De, núi Hồng. Điệp từ “nhớ”, “vui” lặp lại khiến tin thắng trận lan khắp các miền, không khí tưng bừng, phơi phới.
Thể lục bát vốn mềm mại nhưng qua cách ngắt nhịp mạnh, dùng động từ và từ láy giàu sức gợi, đoạn thơ mang âm hưởng hào hùng của một khúc tráng ca.
Câu 6: Người ở lại muốn gửi gắm tâm tư gì với người về? (trang 121)
Trả lời:
Người ở lại mong người về dù sống giữa thành thị vẫn giữ trọn tình nghĩa với Việt Bắc. Những câu hỏi “Mình về thành thị xa xôi / Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng? / Phố đông, còn nhớ bản làng / Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?” đặt đối lập cuộc sống mới đầy đủ (nhà cao, phố đông, sáng đèn) với quá khứ gian khổ (núi đồi, bản làng, mảnh trăng giữa rừng). Đằng sau là nỗi băn khoăn, lo lắng: liệu hoàn cảnh sống thay đổi có làm người đi quên nghĩa cũ? Đó là lời nhắc nhở về đạo lí thủy chung, “uống nước nhớ nguồn”.
Câu 7: Người về đã đáp lại những suy nghĩ của người ở lại thế nào? (trang 121)
Trả lời:
Người về đáp lại bằng lời khẳng định thủy chung và niềm tin vào tương lai:
- Trấn an người ở lại: “Đường về, đây đó gần thôi!” – khoảng cách địa lí không làm xa cách tình cảm.
- Khẳng định lòng không đổi: “Nhà cao, chẳng khuất non xanh / Phố đông, càng giục chân nhanh bước đường” – cuộc sống thành thị không che lấp được hình bóng núi rừng, trái lại càng thôi thúc người đi hướng về Việt Bắc.
- Hẹn ngày trở lại: “Ngày mai về lại thôn hương / Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về” – niềm tin vào ngày mai xây dựng, đoàn tụ.
Lời đáp cho thấy tình cảm cách mạng gắn bó bền chặt giữa người cán bộ và nhân dân.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc Việt Bắc
Phần câu hỏi sau khi đọc nằm ở trang 121, giúp các em khái quát kết cấu, nhân vật trữ tình, nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
Câu 1: Xác định kết cấu của tác phẩm và liên tưởng đến thể loại văn học dân gian (trang 121)
Dựa vào hình thức trình bày của văn bản và sự xuất hiện luân phiên của các từ xưng hô “mình” và “ta”, hãy xác định kết cấu của tác phẩm. Kết cấu đó gợi cho em liên tưởng đến thể loại nào của văn học dân gian?
Trả lời:
Bài thơ có kết cấu đối đáp: các đoạn thơ là lời hỏi và lời đáp luân phiên giữa người ở lại và người ra đi, được đánh dấu bằng sự xuất hiện xen kẽ của “mình” và “ta”. Có thể chia đoạn trích như sau:
- 8 câu đầu: khung cảnh chia tay bịn rịn, lưu luyến.
- 12 câu tiếp: lời người ở lại gợi nhắc kỉ niệm, hỏi người đi còn nhớ hay không.
- Phần tiếp theo (đến hết đoạn “Tin vui thắng trận”): lời người về bày tỏ nỗi nhớ thiên nhiên, con người, cuộc kháng chiến và chiến thắng.
- Phần cuối: người ở lại băn khoăn trước cuộc sống thành thị, người về khẳng định lòng thủy chung và hẹn ngày trở lại.
Kết cấu đối đáp này gợi liên tưởng đến ca dao, dân ca – nhất là những bài hát đối đáp giao duyên, hát huê tình giữa đôi trai gái.
Câu 2: “Mình”, “ta” trong bài thơ này là những ai? (trang 121)
Dựa vào yếu tố nào trong văn bản và hoàn cảnh sáng tác của bài thơ để xác định điều đó?
Trả lời:
Cặp đại từ “mình” – “ta” được dùng linh hoạt:
- Phần lớn trường hợp, “mình” chỉ người cán bộ kháng chiến về xuôi, “ta” chỉ người Việt Bắc ở lại (lời hỏi mở đầu bài thơ).
- Có lúc đổi vai: khi người về lên tiếng, “ta” là người cán bộ, “mình” là người Việt Bắc (“Ta về, mình có nhớ ta”).
- Có lúc “mình” chỉ cả hai phía, như trong câu “Mình đi, mình lại nhớ mình”, thể hiện sự hòa quyện, gắn bó không thể tách rời.
Căn cứ xác định: các từ chỉ hành động và không gian (“về”, “đi”, “ở”, “thành thị”, “rừng núi”) cùng hoàn cảnh sáng tác – cuộc chia tay tháng 10/1954 giữa cơ quan kháng chiến và đồng bào Việt Bắc.
Câu 3: Tâm trạng bao trùm của “mình” và “ta” là gì? Những kỉ niệm nào đã ùa về? (trang 121)
Tâm trạng bao trùm của cả “mình” và “ta” trong đoạn trích là gì? Từ tâm trạng ấy, những kỉ niệm nào đã ùa về? (Ví dụ: kỉ niệm về thiên nhiên Việt Bắc,…)
Trả lời:
Tâm trạng bao trùm là nỗi nhớ thương, lưu luyến, bịn rịn trong buổi chia tay – “bâng khuâng”, “bồn chồn”, “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Từ nỗi nhớ ấy, nhiều kỉ niệm ùa về:
- Kỉ niệm về thiên nhiên Việt Bắc: vừa khắc nghiệt (mưa nguồn, suối lũ, mây mù) vừa thơ mộng (trăng lên đầu núi, hoa chuối đỏ tươi, mơ nở trắng rừng, rừng phách đổ vàng).
- Kỉ niệm về con người: người mẹ địu con lên rẫy, người đan nón, cô em gái hái măng, những mái nhà nghèo mà “đậm đà lòng son”.
- Kỉ niệm về cuộc sống kháng chiến: cơm chấm muối, chia củ sắn lùi, lớp học i tờ, giờ liên hoan, ngày tháng cơ quan.
- Kỉ niệm về chiến đấu và chiến thắng: những đêm hành quân rầm rập, những địa danh gắn với các trận đánh, tin vui thắng trận khắp các miền.
Câu 4: Từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ khắc họa hình tượng Việt Bắc (trang 121)
Hình tượng thiên nhiên, con người và cuộc sống kháng chiến ở Việt Bắc đã được nhà thơ khắc họa qua những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ nào? Hãy giải thích sự độc đáo hoặc nét đặc sắc của một trong các yếu tố nghệ thuật đó.
Trả lời:
- Từ ngữ: giản dị, mộc mạc, giàu màu sắc dân gian (mình, ta, lòng son, sắn lùi, chăn sui); nhiều từ láy gợi tâm trạng và âm thanh (tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn, rầm rập, điệp điệp trùng trùng).
- Hình ảnh: hoa chuối đỏ tươi, mơ nở trắng rừng, ánh sao đầu súng, đèn pha bật sáng; áo chàm, người mẹ nắng cháy lưng.
- Biện pháp tu từ: điệp từ “nhớ”, “mình về”, “mình đi”; hoán dụ “áo chàm” chỉ người Việt Bắc; so sánh “nhớ gì như nhớ người yêu”, “nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”, “rầm rập như là đất rung”; nhân hóa “rừng núi nhớ ai”, “rừng che bộ đội”; nói quá “bước chân nát đá”; liệt kê địa danh; câu hỏi tu từ.
Ví dụ phân tích hoán dụ “áo chàm”: trong câu “Áo chàm đưa buổi phân li”, nhà thơ không gọi tên người Việt Bắc mà dùng màu áo chàm – trang phục giản dị, bền màu của đồng bào miền núi. Hình ảnh vừa gợi đúng vẻ mộc mạc của người tiễn đưa, vừa gợi tấm lòng thủy chung “bền như màu chàm”. Cả một tập thể nhân dân hiện lên qua một chi tiết nhỏ, khiến cảnh chia tay thêm xúc động.
Câu 5: Biểu hiện của tính dân gian, tính hiện đại trong đoạn trích (trang 121)
Việt Bắc là một bài thơ hiện đại nhưng lại thấm đẫm chất dân gian. Hãy chỉ ra các biểu hiện của tính dân gian, tính hiện đại trong đoạn trích.
Trả lời:
Tính dân gian:
- Thể thơ lục bát truyền thống, nhịp nhàng, dễ thuộc.
- Kết cấu đối đáp và cặp đại từ “mình – ta” như trong ca dao giao duyên.
- Hình ảnh, cách so sánh quen thuộc với ca dao (“nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”, “nhớ gì như nhớ người yêu”).
- Đạo lí dân gian: ân tình, thủy chung, uống nước nhớ nguồn.
Tính hiện đại:
- Nội dung mới: tình cảm cách mạng, tình quân dân, sự kiện lịch sử có thật của cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Hình ảnh mang hơi thở thời đại: ánh sao đầu súng, đèn pha, dân công, những địa danh chiến thắng.
- Cảm hứng sử thi và lãng mạn cách mạng, giọng điệu hào hùng xen lẫn trữ tình; niềm tin vào tương lai của đất nước.
Câu 6: Em đọc được thông điệp gì từ đoạn trích Việt Bắc? (trang 121)
Trả lời:
Thông điệp em rút ra: hãy sống thủy chung, ân nghĩa, luôn nhớ về cội nguồn và những người đã cùng mình vượt qua gian khó. Dù hoàn cảnh sống thay đổi, đầy đủ hơn, con người không được quên quá khứ và tình nghĩa đã làm nên thành quả hôm nay. Với thế hệ trẻ, điều đó có nghĩa là biết ơn những hi sinh của cha ông, trân trọng sự gắn bó giữa con người với con người và với quê hương đất nước.
Kết luận
Soạn bài Việt Bắc giúp các em nắm được kết cấu đối đáp “mình – ta”, nỗi nhớ tha thiết của người đi kẻ ở, bức tranh tứ bình và khúc tráng ca kháng chiến – những nội dung trọng tâm của bài thơ trong chương trình Ngữ văn 12 Cánh diều. Sau khi soạn, em nên đọc lại toàn văn trong SGK và luyện viết đoạn phân tích từng phần để ôn tập hiệu quả.
Xem thêm: