Hổ thẹn là cảm giác xấu hổ, day dứt khi tự thấy mình đã làm điều sai, điều kém cỏi hoặc không xứng với kỳ vọng của người khác và của chính mình. Khác với ngượng ngùng thoáng qua, hổ thẹn thường đi kèm sự tự trách, như trong cụm quen thuộc hổ thẹn với lương tâm. Nói cách khác, đó là lúc mặt nóng lên vì lỗi của chính mình.
| Nghĩa | Tự thấy mình xấu xa, không xứng đáng, lấy làm xấu hổ |
| Cấu tạo | Từ ghép: hổ (thẹn, xấu hổ) + thẹn |
| Loại từ | Từ chỉ trạng thái tâm lý, dùng như động từ hoặc tính từ |
| Sắc thái | Nặng, nghiêm túc; gắn với lỗi lầm, danh dự, lương tâm |

Hổ thẹn: đỏ mặt trước chính mình
Ngượng thì cần có người nhìn. Hổ thẹn thì không. Một người có thể ngồi một mình trong phòng, nhớ lại lời nói dối hồi sáng và vẫn thấy hổ thẹn. Đó là điểm làm nên nghĩa của từ: người phán xét mình nhiều khi lại chính là mình.
Các từ điển tiếng Việt giảng hổ thẹn theo hướng “tự cảm thấy mình xấu xa, không xứng đáng”, kèm những ví dụ như không hổ thẹn với cha ông, hổ thẹn với lương tâm. Hai ví dụ cho thấy từ này thường đi với giới từ với và một đối tượng mà người nói coi trọng: tổ tiên, thầy cô, người thân, lương tâm.
Từ này cũng hay đứng sau nỗi, niềm để thành danh từ: nỗi hổ thẹn, niềm hổ thẹn. Ở thể phủ định, không hổ thẹn lại là một lời tự khẳng định đầy tự hào: Em làm bài bằng sức mình, không có gì phải hổ thẹn.
Chữ hổ ở đây không phải con hổ
Nhiều học sinh thắc mắc vì sao “hổ” lại liên quan đến thẹn. Thật ra tiếng Việt có hai chữ hổ khác nhau. Một là hổ chỉ con cọp. Hai là hổ mang nghĩa thẹn, tủi, nay ít dùng một mình nhưng còn sống trong xấu hổ, tủi hổ, hổ ngươi và hổ thẹn. Ghép hai tiếng gần nghĩa là hổ và thẹn, ta có một từ ghép mang nghĩa đậm hơn mỗi tiếng đứng riêng.
Truyện Kiều có một đoạn tách đôi đúng hai tiếng ấy. Lúc đoàn tụ, Kiều từ chối nối lại duyên với Kim Trọng vì thấy mình không còn trong trắng:
Nghĩ mình chẳng hổ mình sao,
Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!
Đã hay chàng nặng vì tình,
Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!
Bốn câu, chữ hổ đứng ở dòng đầu, chữ thẹn ở dòng cuối, và cả hai đều hướng vào “mình”. Nguyễn Du để Kiều thẹn với chính mình trước khi nghĩ tới lời người đời, rất đúng với nghĩa sâu nhất của hổ thẹn.
Xấu hổ, ngượng, tủi hổ khác hổ thẹn ở đâu?
| Từ | Xuất phát từ | Ví dụ |
|---|---|---|
| Hổ thẹn | Lỗi lầm, điều sai trái của bản thân | Nó hổ thẹn vì đã đổ lỗi cho bạn. |
| Xấu hổ | Rộng nhất: lỗi, bị chê, hoặc chỉ là ngại | Bé xấu hổ trốn sau lưng mẹ. |
| Ngượng | Tình huống khó xử trước người khác | Gọi nhầm tên thầy, cậu ngượng đỏ mặt. |
| Tủi hổ | Bị coi thường, thân phận thấp kém | Bà tủi hổ khi bị người ta khinh vì nghèo. |
| Thẹn thùng | E dè, nhất là khi được khen, được để ý | Cô bé thẹn thùng nhận bó hoa. |
Từ gần nghĩa có thể thay trong nhiều câu: xấu hổ, hổ ngươi (cũ), áy náy (nhẹ hơn). Từ trái nghĩa nằm ở phía người không biết thẹn: trơ trẽn, mặt dày, vô liêm sỉ. Riêng chữ liêm sỉ đã chứa sẵn ý “biết hổ thẹn”, xem thêm bài liêm sỉ và chữ sỉ 恥.
Xấu hổ còn một nét nghĩa ngượng ngùng vì gặp người lạ; hai nhóm từ cùng nghĩa và các từ ngược lại được tách riêng trong đồng nghĩa, trái nghĩa với xấu hổ.
Biết hổ thẹn có phải điều đáng quý?
Với đề nghị luận xã hội, hổ thẹn là một khái niệm đáng bàn vì nó có hai mặt.
Mặt tốt dễ thấy nhất: biết hổ thẹn chứng tỏ người ta còn chuẩn mực để tự soi. Người làm sai mà thấy hổ thẹn thì có cơ hội sửa; người làm sai mà thản nhiên mới đáng lo. Vì vậy hổ thẹn thường được đặt cạnh tiếng nói của lương tâm.
Mặt cần cảnh giác: hổ thẹn kéo dài và bị thổi phồng có thể biến thành tự ti, khiến người ta né tránh mọi người thay vì sửa lỗi. Một bài làm tốt nên chỉ ra ranh giới này: hổ thẹn có ích khi nó dẫn tới hành động, như xin lỗi, bù đắp, thay đổi, chứ không phải khi nó chỉ dừng ở việc tự dằn vặt.
Câu ví dụ đắt nhất có lẽ là câu ngắn nhất: Tôi hổ thẹn, và tôi sẽ sửa. Bỏ vế sau, câu chỉ còn là lời than; giữ vế sau, nó thành lời hứa.
Hổ thẹn trong lời ăn tiếng nói hằng ngày
Hổ thẹn với lương tâm là gì?
Là tự thấy việc mình làm trái với điều mình biết là đúng, dù không ai phát hiện hay trách phạt. Cụm này thường dùng để tự răn: Làm vậy thì sau này em hổ thẹn với lương tâm.
Hổ thẹn là danh từ hay tính từ?
Hổ thẹn chủ yếu dùng như từ chỉ trạng thái, đứng làm vị ngữ: Anh ấy rất hổ thẹn. Muốn dùng như danh từ thì thêm nỗi, sự, niềm phía trước: nỗi hổ thẹn.
Đặt câu với từ hổ thẹn thế nào cho tự nhiên?
Nên gắn từ với một lỗi cụ thể và một đối tượng cụ thể. Ví dụ: Nhìn mẹ thức khuya đợi mình, nó hổ thẹn vì đã nói dối đi học thêm. Câu có lý do rõ ràng sẽ thuyết phục hơn câu chỉ nói “tôi thấy hổ thẹn”.
Hổ thẹn và xấu hổ có dùng thay nhau được không?
Được trong câu nói về lỗi lầm: xấu hổ vì gian lận và hổ thẹn vì gian lận gần như cùng nghĩa, nhưng hổ thẹn nặng hơn. Còn khi nói em bé ngại người lạ, chỉ dùng xấu hổ; nói “em bé hổ thẹn” thì nghe sai sắc thái.