Hiện sinh là từ tiếng Việt dùng để dịch chữ existence (sự tồn tại) của triết học phương Tây, chỉ việc con người đang sống, đang có mặt cụ thể trên đời. Từ này gắn liền với chủ nghĩa hiện sinh, trào lưu triết học cho rằng con người tự định nghĩa mình qua lựa chọn và phải chịu trách nhiệm về lựa chọn đó. “Sống hiện sinh”, “tư tưởng hiện sinh” đều xuất phát từ nghĩa này.
| Nghĩa | Sự tồn tại cụ thể của con người; thường nói tắt cho chủ nghĩa hiện sinh |
| Loại từ | Danh từ, cũng dùng như tính từ (tư tưởng hiện sinh, văn học hiện sinh) |
| Tương ứng | Existence, existentialism (Anh); existentialisme (Pháp) |
| Thuộc | Triết học, văn học thế kỷ 20 |

Hiện sinh: có mặt và đang sống
Tách hai tiếng ra sẽ thấy ý của người dịch. Hiện là có mặt, lộ ra trước mắt, như trong hiện tại, hiện diện. Sinh là sống. Hiện sinh vì thế là cái sống đang diễn ra, cụ thể, của một con người cụ thể, khác với những khái niệm chung chung kiểu “bản chất con người” hay “loài người”.
Khi đứng một mình, từ này ít khi dùng trong lời nói thường ngày. Ta hay gặp nó trong các cụm: chủ nghĩa hiện sinh, triết học hiện sinh, văn học hiện sinh, khủng hoảng hiện sinh. Từ điển mở Wiktionary tiếng Việt xếp hiện sinh là danh từ, chỉ hệ tư tưởng cho rằng thế giới vốn không có ý nghĩa định sẵn và mỗi cá nhân tự chịu trách nhiệm cho hành động của mình.
Từ Kierkegaard đến Sartre ở Paris
Người ta thường coi triết gia Đan Mạch Søren Kierkegaard và triết gia Đức Friedrich Nietzsche ở thế kỷ 19 là những người dọn đường, dù cả hai chưa hề dùng chữ “hiện sinh”. Tên gọi chủ nghĩa hiện sinh do Gabriel Marcel đưa ra vào giữa thập niên 1940. Jean-Paul Sartre lúc đầu không thích nhãn ấy, rồi nhận luôn trong buổi nói chuyện ở Paris năm 1945, sau in thành sách Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản.
Ý được nhắc nhiều nhất của Sartre là “hiện sinh có trước bản chất”. Cái bàn được làm ra theo một bản vẽ có sẵn; con người thì không. Ta có mặt trên đời trước, rồi mới thành người thế này hay thế khác qua những việc mình chọn làm. Đi kèm tự do ấy là trách nhiệm và cả nỗi lo âu, vì không ai chọn thay mình được.
Từ Nietzsche, người đọc còn hay hỏi về hình mẫu con người vượt lên chính mình mà ông gọi là Übermensch, siêu nhân của Nietzsche.
Hiện sinh trong trang văn: Buồn nôn, Người xa lạ
Trào lưu này lan rộng nhờ văn chương nhiều hơn nhờ sách triết. Sartre đưa những câu hỏi hiện sinh vào tiểu thuyết Buồn nôn (1938), nơi nhân vật bỗng thấy mọi vật quanh mình trơ ra, vô cớ. Albert Camus, bạn rồi sau là người tranh luận với Sartre, viết Người xa lạ và Thần thoại Sisyphus, đặt con người trước một thế giới phi lý. Cùng thời có Simone de Beauvoir với những trang viết về tự do và đạo đức.
Đọc những tác phẩm này, học sinh dễ nhận ra một kiểu nhân vật: cô đơn, hoài nghi, tự hỏi mình sống để làm gì, và cuối cùng phải tự trả lời bằng hành động. Đó cũng là nét chung với các bài viết về cõi hư vô và chủ nghĩa hư vô, dù hai lối nghĩ đi đến kết luận khác nhau.
Hiện sinh, hiện hữu, hư vô đặt cạnh nhau
| Từ | Nghĩa gần | Khác ở đâu |
|---|---|---|
| Hiện hữu | Đang có, đang tồn tại | Dùng cho mọi sự vật; nhiều sách dịch existence là hiện hữu, nên hai từ đôi khi thay nhau |
| Tồn tại | Có mặt, còn đó | Từ thông dụng, không mang sắc thái triết học riêng |
| Hư vô | Trái nghĩa: trống rỗng, không có gì | Chủ nghĩa hư vô phủ nhận ý nghĩa; hiện sinh nhận thế giới vô nghĩa nhưng đòi con người tự tạo ý nghĩa |
| Bản chất | Đối lập trong câu của Sartre | Cái định sẵn làm nên một vật; hiện sinh cho rằng con người không có bản chất định sẵn |
Tự do kèm trách nhiệm: gợi ý cho bài nghị luận
Đề nghị luận về lý tưởng sống, về quyền tự quyết của người trẻ có thể mượn vài ý từ tư tưởng hiện sinh, miễn diễn đạt bằng lời của mình:
- Không ai sinh ra đã được định sẵn là “người tốt” hay “kẻ hèn”; ta thành người thế nào là do những lần lựa chọn.
- Được tự do chọn thì không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh hay người khác về kết quả.
- Cảm giác hoang mang khi đứng trước nhiều con đường là bình thường; điều đáng sợ hơn là để người khác chọn hộ.
Ý thứ hai nối tự nhiên sang bài viết về ranh giới giữa tự do và sống tùy tiện. Còn những lúc hoài nghi ấy kéo dài thành bế tắc thì đã là một chuyện khác, được giải thích ở bài khủng hoảng hiện sinh và cách đi qua.
Sống hiện sinh và mấy cách hiểu lệch
Sống hiện sinh là gì?
Theo nghĩa gốc, sống hiện sinh là sống có ý thức về lựa chọn của mình và dám chịu trách nhiệm cho nó, không sống theo khuôn người khác đặt sẵn.
Sống hiện sinh có phải là sống buông thả, chỉ biết hưởng thụ?
Không. Hiểu “hiện sinh” là thích gì làm nấy là hiểu lệch. Sartre nhấn mạnh tự do luôn đi kèm trách nhiệm, kể cả trách nhiệm với người khác.
Chủ nghĩa hiện sinh là gì?
Là trào lưu triết học và văn học nổi bật ở châu Âu giữa thế kỷ 20, lấy cá nhân đang sống làm điểm xuất phát, xoay quanh các chủ đề tự do, lựa chọn, lo âu và sự phi lý.
Hiện sinh và hiện hữu có giống nhau không?
Gần nghĩa, vì cả hai đều được dùng để dịch chữ existence. Trong sách triết tiếng Việt, “hiện sinh” thường gắn với con người, còn “hiện hữu” dùng rộng hơn cho mọi sự vật.