Giản dị là mộc, gọn và tự nhiên, không cầu kỳ, không phô trương, dùng để nói về lối sống, cách ăn mặc, và cả lời nói, câu văn dễ hiểu. Người sống giản dị không phải vì thiếu thốn mà vì thấy đủ. Dù tìm “giản dị nghĩa là gì” hay “sống giản dị là gì”, cốt lõi vẫn là chữ tự nhiên ấy.
| Nghĩa ngắn | Đơn giản, tự nhiên, không cầu kỳ hay khoe khoang |
| Gốc từ | Hán Việt 簡易: giản (gọn, đơn sơ) + dị (dễ) |
| Loại từ | Tính từ; “sự giản dị”, “đức tính giản dị” là cách dùng như danh từ |
| Trái nghĩa | Cầu kỳ, xa hoa, phô trương, kiểu cách |

Giản dị ở bộ áo, bữa cơm và câu chữ
Chữ giản dị được dùng cho ba vùng khá khác nhau, và nhìn kĩ thì mỗi vùng có một chút sắc thái riêng.
Thứ nhất là bề ngoài: quần áo, nhà cửa, đồ dùng. Cô giáo mặc áo dài trắng giản dị, không đeo trang sức. Ở đây giản dị gần với gọn gàng, mộc, không màu mè.
Thứ hai là lối sống: ăn uống, tiêu xài, cách đối đãi. Ông làm giám đốc mà sống giản dị, sáng nào cũng ăn bát xôi đầu ngõ. Nét nghĩa này đi gần với khiêm tốn và tiết kiệm, vì nó nói về một lựa chọn chứ không chỉ về đồ vật.
Thứ ba là lời nói và văn chương: câu chữ dễ hiểu, không vòng vo, không khoe chữ. Thơ ông viết bằng lời rất giản dị mà đọc xong cứ nghĩ mãi. Với văn, giản dị là một lời khen, chứ không có nghĩa là sơ sài.
Đọc lên “giản” và “dản” nghe như nhau nên nhiều bạn viết sai thành “dản dị”. Cách nhớ cho đúng có trong bài phân biệt giản dị với dản dị.
Bữa cơm vài món và căn nhà sàn vài phòng trong bài văn lớp 7
Nhắc tới giản dị, học sinh nghĩ ngay đến văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ của Phạm Văn Đồng, có trong sách Ngữ văn 7. Bài nghị luận ấy dựng đức tính giản dị lên từ những thứ rất cụ thể: bữa cơm chỉ vài món quen thuộc, ăn xong không để rơi vãi; căn nhà sàn chỉ vài ba phòng; việc gì tự làm được thì không cần nhiều người phục vụ.
Điều đáng học ở bài văn là tác giả không dừng ở chuyện ăn ở. Ông nói thêm sự giản dị trong lời nói và bài viết của Bác, để quần chúng ai cũng hiểu, ai cũng nhớ được. Và ông phân biệt rõ: giản dị ở đây đi cùng một đời sống tinh thần phong phú, chứ không phải lối sống khắc khổ tự vui trong nghèo khó, cũng không phải kiểu ẩn dật để tỏ ra khác đời. Muốn đọc lại văn bản kèm câu hỏi, có bài soạn bài Đức tính giản dị của Bác Hồ.
Giản dị đứng giữa xuề xòa và cầu kỳ
Giản dị nằm ở khoảng giữa: thiếu một chút thành luộm thuộm, thừa một chút thành kiểu cách. Mấy từ dưới đây hay bị dùng lẫn:
| Từ | Nét chính | Khen hay chê |
|---|---|---|
| Giản dị | Đơn giản mà tự nhiên, vẫn chỉn chu | Khen |
| Đơn giản | Ít thành phần, không phức tạp; dùng được cả cho bài toán, máy móc | Trung tính |
| Mộc mạc, chân chất | Tự nhiên như vốn có, hơi quê, không trau chuốt | Thường là khen |
| Đạm bạc | Ăn uống ít món, thanh, không đầy đủ | Trung tính, hơi buồn |
| Xuề xòa, luộm thuộm | Dễ dãi, không để ý, thiếu gọn gàng | Chê nhẹ đến chê |
| Cầu kỳ, xa hoa, phô trương | Quá chú ý hình thức, tốn kém, khoe | Chê (trái nghĩa) |
“Đơn giản” và “giản dị” chung chữ giản nhưng không phải lúc nào cũng thay được nhau. Nói “bài toán này giản dị” nghe rất lạ; còn “anh ấy sống đơn giản” thì được, chỉ là nhạt hơn “sống giản dị” một chút, vì thiếu cái ý người ta tự chọn như thế.
Người giản dị cũng không phải người keo kiệt. Một đằng là không cần nhiều cho mình, một đằng là tiếc cả cái đáng chi; chuyện này được tách bạch trong bài ranh giới giữa tiết kiệm và hà tiện.
Từ đồng nghĩa và trái nghĩa với giản dị, tách theo nghĩa lối sống và nghĩa lời văn, có ở bài đồng nghĩa, trái nghĩa với giản dị.
Chữ đơn giản, nói về cấu tạo của sự vật chứ không về con người, có bảng từ thay thế riêng ở những từ cùng nghĩa và ngược nghĩa với đơn giản.
Đứng sát giản dị còn có chữ mộc mạc, chữ nghiêng về nét chất phác, tự nhiên, và cũng hay bị nói lẫn với quê mùa.
Gần với giản dị còn có chữ sống chân phương, nói người sống thẳng thắn, mộc mạc như nét chữ không bay bướm.
Lối sống giản dị trong bài nghị luận xã hội
Đề “Suy nghĩ về lối sống giản dị của giới trẻ” hay gặp ở lớp 7 đến lớp 9. Vài ý có thể dùng:
- Giải thích: giản dị là sống đúng với mình, chi tiêu vừa phải, không chạy theo hình thức.
- Biểu hiện ở tuổi học trò: mặc đồng phục gọn gàng thay vì so hàng hiệu; sinh nhật tổ chức ấm cúng chứ không cần phô trương; ăn nói thật, không cố “làm màu” trên mạng.
- Vì sao đáng quý: bớt áp lực so bì; dành tiền, thời gian cho việc đáng làm; được người khác tin vì không giả.
- Phân biệt và phê phán: giản dị khác cẩu thả; phê phán lối sống chạy theo vẻ ngoài, vay mượn để khoe.
Có một trào lưu hiện đại gần với ý này là sống tối giản, bớt đồ đạc để giữ lại cái cần. Bài chủ nghĩa tối giản trong đời sống có thể làm dẫn chứng mở rộng, miễn là đừng đánh đồng hai khái niệm: tối giản là một phong cách có chủ đích, giản dị là một nết người.
Giản dị qua những câu học trò hay viết
Sống giản dị là gì?
Là sống phù hợp với hoàn cảnh của mình, không phô trương, không chạy theo hình thức hay đua đòi. Người sống giản dị vẫn có thể có điều kiện tốt; điểm khác là họ không cần vật chất để khẳng định mình.
Đức tính giản dị thể hiện qua những việc gì?
Qua cách ăn mặc gọn gàng, vừa phải; qua cách tiêu tiền có chừng mực; qua lời nói dễ hiểu, không khoe khoang; và qua cách đối xử bình đẳng với mọi người, không phân biệt sang hèn.
Giản dị tiếng Anh là gì?
Thường dịch là simple hoặc plain; nói về lối sống thì có simple living, nói về con người khiêm nhường thì có thể dùng modest hoặc unpretentious.
Giản dị có phải là nghèo không?
Không. Nghèo là thiếu điều kiện, còn giản dị là cách chọn sống. Một người khá giả vẫn có thể rất giản dị, và ngược lại, người thiếu thốn vẫn có thể thích phô trương.