Đọc sách là nhìn vào chữ in trong sách để hiểu nội dung, đôi khi là đọc thành tiếng cho người khác nghe. Hiểu rộng hơn, đó là thói quen tìm đến trang viết để có thêm hiểu biết, cảm xúc và kinh nghiệm sống. Khi thói quen ấy trở thành nếp chung của cả cộng đồng, người ta gọi là văn hóa đọc.
| Nghĩa ngắn | Xem và hiểu chữ viết trong sách; thói quen tìm hiểu qua sách |
| Cấu tạo | Cụm động từ: đọc + sách |
| Gốc chữ | Đọc là âm Việt hóa của chữ Hán 讀 (Hán Việt: độc) |
| Tiếng Anh | reading, to read a book |

Chữ đọc trong đọc sách từ đâu ra?
Ít ai để ý rằng “đọc” và “độc” trong độc giả vốn là một chữ. Chữ Hán 讀 có âm Hán Việt là độc; người Việt đọc trại đi thành đọc và dùng như một từ thuần quen thuộc. Hai cách đọc cùng sống song song: nói thường thì “đọc”, vào từ Hán Việt thì “độc” như trong độc giả, độc thư. Người đọc sách được gọi là gì, có ở bài chữ độc giả và người đọc.
Từ điển chữ Hán giảng 讀 vừa là đọc thành tiếng từng câu từng chữ, vừa là xem sách, có chỗ còn ghi nghĩa “học”. Sử Kí có câu Tư Mã Thiên kể ông “độc” sách họ Khổng mà hình dung ra con người Khổng Tử. Cái nghĩa “đọc để hiểu người viết” có từ rất sớm như vậy.
Đọc sách gồm những nghĩa nào?
Chữ đọc trong từ điển có hai nét chính, và cả hai đều đi được với chữ sách:
- Nhìn chữ và hiểu nghĩa, thường đọc thầm. Ví dụ: Tối nào em cũng đọc sách nửa tiếng trước khi ngủ.
- Đọc thành tiếng cho người khác nghe. Ví dụ: Tối nào mẹ cũng đọc sách cổ tích cho bé út nghe.
Ngoài nghĩa từ điển, cụm “đọc sách” còn được hiểu như một hoạt động có mục đích: đọc để học, để giải trí, để tìm lời khuyên, để hiểu người khác. Chữ sách ở đây cũng rộng dần: sách in, sách điện tử trên máy đọc, sách nói nghe qua tai. Nghe sách nói có tính là đọc sách không vẫn còn tranh luận, nhưng phần đông coi đó là một cách tiếp nhận sách. Chữ sách đã đi qua những hình hài nào thì xem ở bài từ thẻ tre đến cuốn sách giấy.
Ở Việt Nam, ngày 21 tháng 4 hằng năm là Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam. Ngày này được chọn từ năm 2014 với tên Ngày Sách Việt Nam, đến năm 2021 đổi thành tên hiện tại theo Quyết định 1862/QĐ-TTg.
Bàn về đọc sách trong bài văn nghị luận
Học trò gặp chủ đề này sớm nhất qua văn bản Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm. Ông coi đọc sách là con đường quan trọng của học vấn, nhưng nhắc rằng sách nhiều quá dễ khiến người ta đọc tràn lan, không chuyên sâu; nên chọn cho tinh và đọc cho kĩ. Phần câu hỏi trong sách giáo khoa có ở bài soạn văn bản Bàn về đọc sách lớp 7, lớp 9.
Gặp đề “Suy nghĩ về việc đọc sách của giới trẻ” hay “Văn hóa đọc trong thời mạng xã hội”, có thể dựng bài theo các ý sau:
- Giải thích: đọc sách là tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm qua trang viết; văn hóa đọc là thói quen và cách đọc của một cộng đồng.
- Ích lợi: mở rộng hiểu biết, giàu vốn từ, tập trung lâu hơn, hiểu người khác qua số phận nhân vật.
- Thực trạng: nhiều bạn lướt video ngắn nhiều hơn đọc trọn một chương sách; bên cạnh đó vẫn có những câu lạc bộ đọc, hội sách luôn đông người trẻ.
- Bài học: chọn sách hợp tuổi, đặt mục tiêu nhỏ, ghi lại vài dòng sau mỗi cuốn.
Muốn biến ý tưởng thành hoạt động thật ở lớp, tham khảo bài kế hoạch lập câu lạc bộ đọc ở lớp 6.
Đọc lướt, đọc kĩ, xem sách: khác nhau chỗ nào?
| Cách nói | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đọc sách | Đọc và hiểu nội dung, nói chung | Cuối tuần cả nhà cùng đọc sách |
| Xem sách | Giở sách ra xem, có khi chỉ nhìn tranh, lướt qua | Bé ngồi xem sách tranh |
| Đọc lướt | Đọc nhanh để nắm ý, tìm thông tin | Đọc lướt mục lục trước khi mua |
| Đọc kĩ, nghiền ngẫm | Đọc chậm, suy nghĩ, đọc lại nhiều lần | Nghiền ngẫm từng chương tiểu thuyết |
| Đọc hiểu | Đọc để trả lời câu hỏi về nội dung, nghệ thuật; tên một dạng bài trong môn Ngữ văn | Phần đọc hiểu trong đề thi |
Trái nghĩa trực tiếp với “đọc sách” thì không có, nhưng người ta hay nói “lười đọc”, “ngại đọc” để chỉ thái độ ngược lại. Gần nghĩa là học, tự học, nghiên cứu. Để ý câu “Mẹ đọc sách cho con” và “Mẹ đọc sách của con”: chỉ đổi một chữ, câu đầu là đọc thành tiếng, câu sau lại thành mẹ đọc cuốn sách con đang có.
Với sách tự lực, đọc lướt dễ thành đọc cho vui rồi quên; self help là gì gợi cách đọc để thật sự có ích.
Văn hóa đọc, lợi ích và cách nói trong tiếng Anh
Văn hóa đọc là gì?
Là thói quen, nhu cầu và cách ứng xử với sách của một người hay một cộng đồng: đọc gì, đọc bao nhiêu, đọc ra sao, có trân trọng sách và người viết không. Ngày 21/4 hằng năm được dành để tôn vinh văn hóa đọc ở Việt Nam.
Đọc sách có lợi ích gì?
Đọc sách giúp mở rộng hiểu biết, tăng vốn từ và khả năng diễn đạt, rèn sự tập trung. Đọc văn chương còn cho ta sống thêm nhiều cuộc đời khác qua nhân vật, từ đó dễ cảm thông với người xung quanh.
Đọc sách tiếng Anh là gì?
Thường nói reading hoặc read a book; “thói quen đọc sách” là reading habit, “văn hóa đọc” là reading culture.
Nghe sách nói có tính là đọc sách không?
Tùy cách hiểu. Theo nghĩa hẹp, đọc là nhìn chữ; theo nghĩa rộng, nghe sách nói vẫn là tiếp nhận nội dung của sách. Nhiều người kết hợp: nghe khi di chuyển, đọc giấy khi cần ngẫm kĩ.