Ngữ âm là mặt âm thanh của ngôn ngữ: toàn bộ các âm, các thanh, cách chúng kết hợp với nhau và cách lên giọng xuống giọng khi nói. Từ này còn được dùng như tên gọi tắt của ngữ âm học, ngành nghiên cứu mặt âm thanh ấy. Học sinh gặp ngữ âm ở các bài về tiếng, âm tiết, vần, thanh điệu, và khi học phát âm ngoại ngữ.
| Khái niệm | Hệ thống âm thanh của một ngôn ngữ và quy tắc kết hợp các âm |
| Nghĩa khác | Gọi tắt của ngữ âm học (phonetics) |
| Thuộc | Ngôn ngữ học, đứng cạnh từ vựng và ngữ pháp |
| Dấu hiệu nhận biết | Câu hỏi xoay quanh cách phát âm, âm đầu, vần, thanh, nhịp, ngữ điệu |

Ngữ âm: lớp vỏ âm thanh của tiếng nói
Một ý nghĩ chưa nói ra thì người khác chưa nghe được. Muốn đến được tai người nghe, nó phải khoác lên mình những âm thanh cụ thể. Giới ngôn ngữ học hay gọi phần âm thanh đó là “vỏ vật chất” của ngôn ngữ, và ngữ âm chính là lớp vỏ ấy.
Từ điển tiếng Việt ghi ba cách dùng cho chữ ngữ âm:
- Hệ thống các âm của một ngôn ngữ: ngữ âm tiếng Việt có sáu thanh.
- Bộ phận của ngôn ngữ liên quan tới các âm và quy tắc kết hợp âm, phân biệt với từ vựng và ngữ pháp: lỗi ngữ âm, lỗi dùng từ và lỗi ngữ pháp.
- Cách nói tắt của ngữ âm học: giáo trình ngữ âm dành cho sinh viên năm nhất.
Về mặt chữ, ngữ (語) là lời nói, âm (音) là tiếng, âm thanh. Ngữ âm là tiếng của lời nói, khác với âm thanh nói chung như tiếng mưa hay tiếng chim.
Ngữ âm học nghiên cứu những gì?
Ngữ âm học xét một âm thanh của lời nói từ ba phía, ứng với ba chặng của nó từ miệng người nói đến tai người nghe.
- Cấu âm (góc sinh lí): môi, lưỡi, răng, dây thanh phối hợp ra sao để tạo ra âm. Vì sao “b” phải mím môi còn “đ” phải đưa đầu lưỡi lên chân răng.
- Âm học (góc vật lí): âm thanh là sóng âm, đo được độ cao, độ mạnh, độ dài và âm sắc. Thanh điệu tiếng Việt chủ yếu là chuyện độ cao lên xuống của giọng.
- Thính giác (góc tri giác): tai và não người nghe nhận ra, phân biệt các âm như thế nào.
Theo phạm vi, người ta chia ra ngữ âm học đại cương, tìm những quy luật chung cho mọi ngôn ngữ, và ngữ âm học của từng thứ tiếng. Phần thứ hai lại có hướng miêu tả hệ thống âm hiện nay và hướng lịch sử, theo dấu xem âm của một ngôn ngữ đổi thay qua các thời kì.
Ngữ âm học và âm vị học khác nhau ở đâu?
| Tiêu chí | Ngữ âm học | Âm vị học |
|---|---|---|
| Câu hỏi chính | Âm này được phát ra, truyền đi, nghe thấy như thế nào? | Âm nào giúp phân biệt nghĩa trong một ngôn ngữ cụ thể? |
| Đơn vị | Âm tố, tức từng âm cụ thể; số lượng gần như vô hạn | Âm vị; mỗi ngôn ngữ có một số lượng đếm được |
| Ví dụ | Chữ “a” mỗi người đọc một chút khác, đều là âm tố khác nhau | “lo” và “no” khác nghĩa nên /l/ và /n/ là hai âm vị riêng |
Ví dụ cuối bảng giải thích vì sao nói lẫn “l” với “n” bị coi là lỗi: trong tiếng Việt chuẩn, hai âm này gánh việc phân biệt nghĩa, đọc lẫn là người nghe hiểu sai. Những trường hợp như vậy được gom lại ở bài những lỗi nói ngọng phổ biến và cách sửa.
Âm tiết tiếng Việt được cấu tạo ra sao?
Ngữ âm tiếng Việt có một nét nổi bật: âm tiết tách bạch, mỗi âm tiết thường trùng với một tiếng, và tiếng nào cũng mang một thanh điệu. Vì vậy, muốn phân tích ngữ âm tiếng Việt, người ta thường bắt đầu từ cấu tạo của một tiếng.
| Thành phần | Vị trí | Ví dụ trong tiếng “toán” |
|---|---|---|
| Âm đầu | Mở đầu âm tiết | t |
| Vần: âm đệm | Làm tròn môi, đứng sau âm đầu | o |
| Vần: âm chính | Hạt nhân, luôn có mặt | a |
| Vần: âm cuối | Khép lại âm tiết | n |
| Thanh điệu | Phủ lên cả âm tiết | sắc |
Không phải tiếng nào cũng đủ năm phần; tiếng “a” chỉ có âm chính và thanh ngang. Ở tiểu học, các em học cách chia gọn hơn: tiếng gồm âm đầu, vần và thanh, như bài cấu tạo của tiếng ở lớp 4 đã trình bày. Muốn đi sâu hơn vào âm đệm, âm chính, âm cuối, xem bài âm tiết tiếng Việt gồm những phần nào.
Sáu thanh của tiếng Việt chia làm hai nhóm. Thanh bằng gồm ngang và huyền; thanh trắc gồm sắc, hỏi, ngã, nặng. Cặp bằng – trắc này là nền của luật thơ, và đó là chỗ ngữ âm bước vào môn Ngữ văn.
Nghe ngữ âm làm việc trong câu thơ
Vần “eo” trong Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Nguyễn Khuyến chọn vần “eo” cho cả bài, gieo ở các chữ veo, teo, vèo… Đây là vần có âm chính mở nhưng lại khép bằng bán âm cuối, đọc lên miệng thu hẹp dần. Cảm giác ấy hợp với không gian thu nhỏ, tĩnh và vắng. Phân tích kĩ hơn có trong bài soạn Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến.
Bằng trắc trong câu ca dao về hoa sen
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Đếm theo luật lục bát: ở câu sáu, tiếng thứ hai đầm mang thanh bằng, tiếng thứ tư đẹp mang thanh trắc, tiếng thứ sáu sen lại là thanh bằng. Câu tám giữ đúng nhịp ấy (xanh – trắng – chen), rồi kết bằng vàng. Chữ sen cuối câu sáu bắt vần với chen ở tiếng thứ sáu câu tám. Hai tiếng chen (thanh ngang) và vàng (thanh huyền) cùng là thanh bằng nhưng một bổng một trầm, làm câu thơ không đều đều. Tất cả là chuyện ngữ âm, và đó là lí do câu ca dao đọc lên thấy êm. Cách các tiếng bắt vần với nhau được giải thích thêm ở bài phân biệt vần chân và vần lưng trong thơ.
Bài tập ngữ âm có đáp án
Câu 1: Phân tích cấu tạo ngữ âm của tiếng “hoàng”.
Đáp án: Âm đầu h; vần oang gồm âm đệm o, âm chính a, âm cuối ng; thanh huyền.
Câu 2: Xếp các tiếng trong câu “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” vào nhóm thanh bằng và thanh trắc.
Đáp án: Thanh bằng: vàng, đưa, vèo. Thanh trắc: lá, trước, gió, khẽ.
Câu 3: Vì sao đọc “nàng tiên” thành “làng tiên” bị coi là lỗi ngữ âm?
Đáp án: Vì trong tiếng Việt chuẩn, /n/ và /l/ là hai âm vị phân biệt nghĩa: “nàng” là người con gái, “làng” là nơi cư trú. Đọc lẫn làm thay đổi nghĩa của từ.
Câu 4: Câu hỏi “Lưỡi đặt ở đâu khi phát âm chữ đ?” thuộc ngữ âm học hay âm vị học?
Đáp án: Thuộc ngữ âm học, cụ thể là góc cấu âm, vì nó hỏi về cách cơ quan phát âm tạo ra âm, chưa bàn đến chức năng phân biệt nghĩa.
Ngữ âm ở lớp học ngoại ngữ và lớp Văn
Ngữ âm tiếng Anh là gì?
Là phần phát âm của tiếng Anh: nguyên âm, phụ âm, trọng âm của từ, nhịp và ngữ điệu của câu. Sách học tiếng Anh thường ghi cách đọc bằng kí hiệu phiên âm quốc tế IPA. Tên gọi trong tiếng Anh của ngành này là phonetics.
Ngữ âm học là gì?
Là ngành của ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu mặt âm thanh của lời nói: cách tạo ra âm, đặc tính vật lí của âm và cách người nghe tiếp nhận. Khi ai đó nói “học ngữ âm” ở bậc đại học, thường họ đang nói tới môn này.
Ngữ âm và ngữ điệu khác nhau thế nào?
Ngữ điệu là một phần của ngữ âm. Ngữ âm bao trùm mọi thứ thuộc về âm thanh; ngữ điệu chỉ là đường lên xuống của giọng trên cả câu, giúp phân biệt câu hỏi, câu kể hay câu cảm.
Tiếng Việt có mấy thanh điệu?
Chữ quốc ngữ ghi sáu thanh: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. Ở nhiều vùng miền Trung và miền Nam, thanh hỏi và thanh ngã được phát âm gần như nhau, nên người ở đó dễ viết nhầm dấu.