Dạn dĩ là không còn rụt rè, e ngại hay sợ sệt nữa, thường nói về cách ăn nói, cử chỉ, nét mặt của một người đã quen với chỗ đông, với người lạ. “Dạn dĩ nghĩa là gì” có thể hiểu gọn là bạo dạn một cách tự nhiên. Từ này mang sắc thái khen nhẹ, trái nghĩa với nhút nhát, rụt rè.
| Nghĩa ngắn | Không còn rụt rè, e ngại; bạo dạn, tự nhiên |
| Cấu tạo | Chữ dạn (bạo, quen) + tiếng dĩ đi kèm, thường được xếp vào từ láy âm đầu d |
| Loại từ | Tính từ |
| Đồng nghĩa | Bạo dạn, mạnh dạn, mạnh bạo |
| Trái nghĩa | Nhút nhát, rụt rè, e dè |

Đứa trẻ dạn dĩ trông thế nào?
Hình dung một bé ba tuổi được bế sang nhà hàng xóm. Có bé úp mặt vào vai mẹ, có bé tụt xuống chạy đi xem bể cá rồi quay lại hỏi chuyện cô chú. Bé thứ hai là đứa trẻ người ta khen “dạn dĩ”. Nghĩa của từ nằm gọn trong cảnh ấy: không phải gan làm điều nguy hiểm, mà là tự nhiên trước người lạ, chỗ lạ.
Mục từ dạn dĩ trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học giảng là không còn rụt rè, e ngại hay sợ hãi nữa, kèm lời chú “nói khái quát”. Hai chữ “không còn” và “nữa” đáng để ý: dạn dĩ thường là kết quả của việc đã quen, đã trải qua, chứ không hẳn là tính trời sinh. Đứa trẻ hay được bố mẹ cho đi chơi, gặp nhiều người thì dạn dĩ dần. Cậu học sinh lần đầu lên bảng run cầm cập, đến học kì hai đã dạn dĩ hơn hẳn.
Dạn dĩ hay đi với mấy danh từ quen: ăn nói dạn dĩ, gương mặt dạn dĩ, cử chỉ dạn dĩ. Nó còn dùng cho con vật: con mèo mới đem về hay trốn dưới gầm giường, ít hôm sau đã dạn dĩ ra cọ chân chủ.
Dạn dĩ, mạnh dạn, dạn dày khác nhau chỗ nào?
Cùng chung chữ dạn, nhưng mỗi từ nghiêng về một hướng:
| Từ | Nghiêng về | Ví dụ |
|---|---|---|
| Dạn dĩ | Trạng thái tự nhiên, hết e ngại vì đã quen | Bé dạn dĩ chào khách. |
| Mạnh dạn | Dám làm một việc cụ thể mà người khác còn ngại | Mạnh dạn đề xuất ý tưởng mới. |
| Bạo dạn | Ăn nói, cử chỉ bạo, không sợ sệt (gần dạn dĩ nhất) | Cô bé ăn nói bạo dạn. |
| Dạn dày (dày dạn) | Từng trải, quen chịu đựng gian khổ | Người lính dạn dày trận mạc. |
| Nhút nhát, rụt rè | Trái nghĩa: ngại ngùng, sợ chỗ đông, người lạ | Rụt rè đứng sau lưng mẹ. |
Dễ thấy nhất là cặp dạn dĩ và mạnh dạn. Mạnh dạn thường đứng trước động từ để nói một hành động (“mạnh dạn hỏi”, “mạnh dạn đầu tư”); dạn dĩ thì tả cái dáng, cái vẻ của người. Chữ dạn và nghĩa “quen với cái đáng sợ” của nó đã được giải kỹ ở bài chữ dạn và ranh giới với liều lĩnh. Đầu bên kia của thang này là sự ngại ngùng, có ở bài nhút nhát khác hướng nội ở đâu.
Một chữ dạn trong Truyện Kiều
Chữ dạn đứng một mình nghe hơi cũ, nhưng Nguyễn Du đã dùng nó rất đắt. Đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, thấy Sở Khanh lẻn vào, nàng vừa ngại vừa mong. Nguyễn Du viết:
Sượng sùng đánh dạn ra chào
“Sượng sùng” là ngượng, lúng túng; “đánh dạn” là cố lấy can đảm. Một người con gái nề nếp, đang trong cảnh lỡ làng, phải gượng lên mà dạn để tự ra chào một người đàn ông lạ. Chữ dạn ở đây chưa phải dạn dĩ: đó là cái dạn phải gồng mới có. Đặt cạnh nhau, ta hiểu dạn dĩ là khi cái dạn đã thành tự nhiên, không còn phải “đánh” nữa.
Dạn dĩ quá có thành trơ không?
Có thể, khi người nói muốn chê. Dạn dĩ vốn là lời khen, nhưng nếu ai đó nói năng quá tự nhiên ở chỗ cần giữ ý (ngắt lời người lớn, hỏi chuyện riêng của người mới quen) thì người ta sẽ dùng từ khác: dạn mồm, trơ, lì. Cùng một hành động, ở sân trường được khen dạn dĩ, ở đám giỗ có khi bị nhắc là chưa biết giữ phép.
Vì vậy, khen một đứa trẻ thì cứ dùng dạn dĩ; nhận xét người lớn trong văn bản trang trọng thì tự tin, chững chạc thường hợp hơn. Cái tự tin ấy được bàn kỹ ở bài sống tự tin mà không thành tự cao.
Dạn dĩ trong lời khen trẻ nhỏ và trong bài văn
Dạn dĩ nghĩa là gì?
Là không còn rụt rè, e ngại, tự nhiên khi tiếp xúc với người lạ hay chỗ đông. Thường dùng để khen trẻ nhỏ, học sinh hoặc người đã quen việc.
Dạn dĩ là từ láy hay từ ghép?
Thường được xếp vào từ láy âm đầu: hai tiếng cùng bắt đầu bằng d, tiếng “dĩ” không có nghĩa riêng trong từ này, chỉ tiếng “dạn” mang nghĩa.
Từ trái nghĩa với dạn dĩ là gì?
Nhút nhát, rụt rè, e dè, nhát (nói về trẻ con: nhát người). Ví dụ: “Hồi nhỏ em rất rụt rè, lên lớp năm mới dạn dĩ hơn.”
Đặt câu với từ dạn dĩ thế nào?
“Sau hai tháng đi bán hàng hội chợ, Lan đã dạn dĩ mời khách mà không còn đỏ mặt.” Câu này cho thấy đúng nét nghĩa: dạn dĩ đến sau khi đã quen.