Cố chấp là khăng khăng bám lấy ý kiến, cách nghĩ của mình dù đã có lý lẽ cho thấy mình sai. Từ này còn một nét nghĩa ít gặp hơn: để bụng mãi những sơ suất người khác gây ra cho mình đến mức thành định kiến. Vì thế tính cố chấp khác hẳn sự vững vàng: người cố chấp giữ ý không phải vì ý ấy đúng, mà vì nó là của mình.
| Nghĩa ngắn | Khăng khăng giữ ý, không chịu đổi dù sai; hoặc để bụng lâu lỗi nhỏ của người khác |
| Gốc từ | Hán Việt 固執: cố (bền chặt, một mực) + chấp (cầm, giữ) |
| Loại từ | Động từ, hay dùng như tính từ: “tính cố chấp”, “rất cố chấp” |
| Sắc thái | Chê; tự nhận mình cố chấp thường kèm ý hối |

Cố chấp: bàn tay nắm chặt chữ 固執
Chữ cố (固) theo Thiều Chửu có nghĩa đầu là bền chắc, vững vàng, như trong kiên cố, củng cố, cố thủ. Nhưng ngay trong mục từ ấy đã có một nét nghĩa chê: cái gì cũng bám lấy một chiều thì gọi là cố. Chữ chấp (執) nghĩa gốc là cầm, giữ, bắt; ta còn gặp nó trong chấp bút (cầm bút viết) hay chấp hành.
Ghép hai chữ lại sẽ ra một hình ảnh rất dễ nhớ: bàn tay nắm thật chặt và không chịu mở ra. Cái được nắm ở đây là ý kiến, thói quen, một nhận định cũ. Cũng trong sách Thiều Chửu, kiểu người không biết biến thông, lúc nào cũng tự cho mình là phải được gọi bằng một từ họ hàng là câu chấp. Nắm chặt một nỗi niềm trong lòng thì lại thành chuyện khác, gần với chấp niệm, cái níu giữ trong lòng.
Khăng khăng giữ ý và để bụng lỗi người
Các từ điển tiếng Việt thông dụng xếp cố chấp vào loại động từ, với hai nét nghĩa khá xa nhau:
- Một mực giữ ý kiến theo quan niệm cứng nhắc có sẵn, dù mình sai. Ví dụ: Cậu ấy cố chấp bảo vệ đáp số của mình, dù cô giáo đã chỉ ra chỗ nhân nhầm ở dòng thứ hai.
- Để ý mãi đến sơ suất của người khác với mình đến mức thành định kiến. Ví dụ: Chỉ vì lần ấy bạn quên trả sách mà chị cố chấp, mấy năm sau gặp lại vẫn còn nhắc.
Nét nghĩa thứ hai nghe lạ tai với nhiều bạn trẻ, nhưng nó giải thích câu khuyên quen thuộc của người lớn: “Thôi, chấp làm gì con trẻ”. Ở nét này, cố chấp đứng gần chấp nhặt, để bụng, thù dai; trái với nó là độ lượng, bỏ qua, xí xóa.
Những câu nói lộ tính cố chấp
Người cố chấp hiếm khi tự gọi mình như vậy. Họ lộ ra qua lời nói, nhất là lúc tranh luận:
- “Tôi nói rồi, cứ thế mà làm, bàn thêm làm gì.”
- “Xưa nay vẫn vậy, có sao đâu mà phải đổi.”
- “Cậu đưa số liệu gì thì tôi cũng không tin.”
- “Sai thì sai, tôi vẫn giữ ý của tôi.”
Điểm chung của bốn câu không nằm ở chuyện giữ ý. Ai cũng có quyền giữ ý. Cái đáng ngại là cánh cửa đóng lại trước cả khi nghe lý do. Ngược với thái độ ấy là thói quen nghe cho trọn ý người đối diện rồi mới đáp.
Cố chấp đứng đâu giữa kiên định và bảo thủ?
| Từ | Giữ cái gì | Có chịu nghe lý lẽ mới? | Sắc thái |
|---|---|---|---|
| Kiên định | Mục tiêu, nguyên tắc đã cân nhắc kĩ | Có; đổi cách làm nhưng giữ hướng | Khen |
| Kiên trì | Việc đang làm, bền bỉ qua thời gian | Có | Khen |
| Bảo thủ | Nếp cũ, cách làm cũ; ngại cái mới | Ít khi | Chê |
| Cố chấp | Ý kiến của chính mình, kể cả khi đã sai | Không | Chê |
| Ngoan cố | Việc sai, dù đã bị vạch rõ | Không, còn chống lại | Chê nặng |
Đồng nghĩa gần với cố chấp có khăng khăng, cứng đầu, ương bướng; trái nghĩa là cởi mở, mềm mỏng, biết lắng nghe. Bảo thủ và cố chấp hay bị gộp làm một, nhưng bảo thủ nghiêng về giữ cái cũ, còn cố chấp nghiêng về giữ cái của mình; bài viết về chữ 保守 giữ lấy nếp cũ tách hai từ này kĩ hơn. Với kiên định thì phép thử đơn giản: khi có bằng chứng mới, mình có chịu xem không? Người vững lập trường mà vẫn chịu nghe sẽ xem rồi mới quyết; người cố chấp gạt đi từ đầu.
Một lỗi dùng từ khá phổ biến: viết “em cố chấp theo đuổi ước mơ” với ý khen. Muốn khen, hãy dùng kiên trì hay bền bỉ; chữ cố chấp đặt vào đâu cũng mang theo chút chê trách.
Cố chấp trong tình yêu, trong nhà và trong tiếng Anh
Tính cố chấp là gì?
Là nét tính cách quen giữ chặt ý mình, khó nhận sai và khó đổi cách nghĩ dù người khác đã giải thích. Nói “tính cố chấp” là đang nói về một thói quen lặp lại, không phải một lần cãi cố.
Cố chấp trong tình yêu là như thế nào?
Thường là hai kiểu: một người nhất định cho mình đúng trong mọi lần giận nhau, hoặc một người níu mãi một mối quan hệ đã hết dù mọi dấu hiệu đều cho thấy nên buông. Kiểu thứ hai gần với chấp niệm hơn là cãi lý.
Người cố chấp có thay đổi được không?
Có, nhưng thường chỉ khi chính họ thấy cái giá của việc giữ ý: mất bạn, hỏng việc, làm người thân buồn. Góp ý trực diện giữa đám đông dễ khiến họ giữ chặt hơn; nói riêng, đưa dẫn chứng cụ thể thì dễ lọt tai hơn.
Cố chấp tiếng Anh là gì?
Hay dịch là stubborn (cứng đầu) hoặc obstinate (khăng khăng không đổi ý); danh từ tương ứng là stubbornness, obstinacy.