Bướng là tính từ chỉ tính khó bảo: không chịu nghe lời, ai khuyên gì cũng gạt đi, cứ một mực làm theo ý mình. Đây là từ thuần Việt, hay đi kèm thành bướng bỉnh, ương bướng, cãi bướng. Người ta dùng nó nhiều nhất khi nói về trẻ con và tuổi mới lớn, nhưng người lớn bướng cũng chẳng hiếm.
| Nghĩa ngắn | Khó bảo, không chịu nghe ai, cố giữ ý mình |
| Loại từ | Tính từ, từ đơn thuần Việt |
| Từ thường đi kèm | bướng bỉnh, ương bướng, ngang bướng, cãi bướng |
| Trái nghĩa | ngoan, dễ bảo, biết nghe lời |
| Sắc thái | Chê nhẹ đến chê nặng, đôi khi trìu mến khi nói về con nhỏ |

Bướng: khi cái đầu không chịu gật
Hình dung một đứa bé năm tuổi được mẹ dặn đội mũ trước khi ra nắng. Bé lắc đầu, ôm chặt cái mũ sau lưng, rồi chạy ra sân. Không cần định nghĩa nào, ai nhìn cảnh ấy cũng gọi được tên: bướng.
Các từ điển tiếng Việt đều giải theo một hướng: khó bảo, không chịu nghe lời, khăng khăng theo ý riêng. Cái lõi của chữ bướng nằm ở chỗ có người khác đang khuyên, đang bảo, mà mình vẫn không nghe. Không có ai khuyên thì chưa gọi là bướng được.
Từ này đứng được một mình làm vị ngữ (thằng bé bướng lắm) và cũng đi sau động từ để chỉ cách làm việc ấy:
- Cãi bướng: sai rồi mà vẫn cãi, không chịu nhận. Đã làm vỡ bình hoa còn cãi bướng là con mèo làm.
- Làm bướng: biết người ta không cho mà vẫn làm. Bố bảo đừng sửa xe giữa trưa, anh cứ làm bướng, mồ hôi ướt hết áo.
- Nói bướng: nói ngang, nói cố cho bằng được. Thua cờ rồi mà nó vẫn nói bướng rằng mình nhường.
Sắc thái thay đổi theo người nói. Bà ngoại bảo “con bé này bướng y như mẹ nó hồi nhỏ” nghe gần như khen; sếp ghi vào biên bản “nhân viên bướng, không tiếp thu góp ý” thì là chê thật sự.
Bướng đứng cạnh cứng đầu, lì và cố chấp
Tiếng Việt có cả một họ từ quanh cái tính không chịu nghe. Đặt cạnh nhau mới thấy mỗi từ nghiêng về một phía.
| Từ | Nghiêng về | Câu ví dụ |
|---|---|---|
| Bướng bỉnh | Như bướng nhưng nghe nhẹ và kéo dài thành tính; hay dùng cho trẻ nhỏ | Tuổi lên ba bướng bỉnh, cái gì cũng đòi tự làm |
| Ương bướng | Bướng kèm vẻ ương ngạnh, khó chịu; chê nặng hơn | Cậu ấy ương bướng, thầy nói ba lần vẫn không sửa |
| Cứng đầu | Khẩu ngữ, không dễ bỏ ý mình để theo người khác | Ông cụ cứng đầu, nhất định không chịu đi khám |
| Lì | Mắng, phạt cũng không thay đổi, trơ ra | Bị nhắc mãi mà vẫn lì, ngồi chơi điện thoại |
| Cố chấp | Bám chặt một quan điểm, không chịu nhìn lẽ khác; dùng cho người lớn, văn viết | Ông ta cố chấp với định kiến về người trẻ |
Bướng và lì hay bị dùng lẫn. Khác nhau ở chỗ đứa trẻ bướng thường phản ứng, cãi lại, giãy nảy; đứa trẻ lì thì im, không cãi mà cũng không làm. Còn bướng với cố chấp khác nhau ở tầm: bướng là chuyện từng lần không nghe lời, cố chấp là cả một lối nghĩ đóng kín. Bài giải nghĩa chữ cố chấp 固執 phân tích phần ấy kĩ hơn.
Ở phía trái nghĩa có ngoan, dễ bảo, biết nghe lời, vâng lời. Sang tiếng Anh, bướng thường được dịch là stubborn; muốn nhấn vẻ ngang ngạnh của trẻ nhỏ có thể dùng headstrong hay obstinate.
Bướng có lúc nào đáng quý không?
Đây là câu hỏi hay gặp trong đề nghị luận về tính cách, và câu trả lời không đơn giản là “không”.
Ở tuổi lên ba và tuổi mới lớn, cái bướng thường đi cùng mong muốn tự làm, tự quyết. Đứa trẻ nhất định tự cài cúc áo dù cài lệch, cậu học sinh lớp chín nhất định chọn ban mình thích dù cả nhà khuyên ngược lại: trong mấy cái bướng ấy có mầm của sự tự lập. Người lớn nên phân biệt cái bướng cần uốn với cái bướng chỉ là đứa trẻ đang tập lớn.
Ranh giới nằm ở lí lẽ. Khi giữ ý mình vì đã cân nhắc, có lí do và sẵn sàng đổi nếu gặp lẽ phải hơn, đó là lòng vững vàng theo đuổi điều đã chọn. Khi giữ ý chỉ vì không muốn thua, không muốn nhận sai, đó là bướng. Phần nhiều trường hợp, sau cái bướng là cái tôi sợ mất mặt trước người khác.
Một dàn ý gọn cho bài nghị luận có thể đi ba bước: giải thích bướng là gì; chỉ ra mặt hại (bỏ lỡ lời khuyên đúng, làm rạn quan hệ, đâm đầu vào sai lầm biết trước); rồi nhìn mặt kia, phân biệt bướng với chính kiến. Kết lại bằng việc tập nghe trước khi cãi.
Có một câu cửa miệng của nhiều ông bố bà mẹ rất đúng chất chữ này: “Nói một câu nó cãi mười câu”. Đếm được số câu cãi lại, ấy là bướng; im lặng không cãi mà vẫn không làm, ấy đã sang lì.
Chữ bướng trong mấy tình huống quen
Bướng bỉnh là gì?
Bướng bỉnh là bướng đã thành tính, lặp lại nhiều lần. Từ này nghe nhẹ hơn ương bướng và hay dùng cho trẻ con, kiểu “hồi nhỏ em bướng bỉnh lắm”.
Ương bướng nghĩa là gì?
Là bướng một cách ương ngạnh, khó chịu, không chịu nghe ai. Mức chê của ương bướng nặng hơn bướng bỉnh, thường gặp trong lời phê, lời nhận xét hạnh kiểm.
Bướng tiếng Anh là gì?
Phổ biến nhất là stubborn (danh từ stubbornness). Headstrong thiên về bốc đồng, làm theo ý mình; obstinate trang trọng hơn, nhấn vào sự cố giữ.
Bảo ai đó “bướng” có phải là chê không?
Phần lớn là chê. Riêng khi người lớn nói về con cháu nhỏ với giọng cười, chữ bướng lại mang chút trìu mến, như nhận ra đứa trẻ có cá tính riêng.