Chỉ từ là những từ dùng để trỏ vào sự vật, giúp xác định vị trí của sự vật ấy trong không gian hoặc thời gian, quen thuộc nhất là này, kia, ấy, nọ, đây, đó. Trong câu “Ngày xưa có ông vua nọ”, chữ nọ chính là chỉ từ. Bài này đi từ khái niệm chỉ từ lớp 6, các kiểu chỉ từ, cách nhận ra nó trong câu đến bài tập có đáp án.
| Nghĩa ngắn | Từ trỏ vào sự vật, định vị sự vật trong không gian hoặc thời gian |
| Từ thường gặp | này, kia, ấy, nọ, đây, đấy, đó, nay, bây giờ |
| Vị trí quen thuộc | Đứng sau danh từ, ở cuối cụm danh từ: viên quan ấy, làng kia |
| Chức vụ trong câu | Phụ ngữ của cụm danh từ; có khi làm chủ ngữ hoặc trạng ngữ |
| Học ở | Ngữ văn 6 (chương trình cũ, tập một, trang 136–139); dùng lại khi học cụm danh từ và liên kết câu |

Chỉ từ: ngón tay trỏ bằng lời
Thử tưởng tượng đang đứng ở chợ và nói “cho tôi quả này”. Người bán không cần nghe tên giống xoài, chỉ cần nhìn theo tay mình là biết quả nào. Chỉ từ làm đúng việc của ngón tay ấy, nhưng bằng lời. Sách Ngữ văn 6 chương trình cũ định nghĩa chỉ từ là những từ dùng để trỏ vào sự vật, nhằm xác định vị trí của sự vật trong không gian hoặc thời gian; trang Wikipedia tiếng Việt về ngữ pháp tiếng Việt cũng ghi cùng nội dung và nói thêm rằng chỉ từ thường làm phụ ngữ trong cụm danh từ.
Ví dụ trong sách lấy từ truyện Em bé thông minh: so ông vua với ông vua nọ, viên quan với viên quan ấy. Khi thiếu chỉ từ, danh từ chỉ gọi tên một loại người chung chung. Khi có nọ, ấy, người nghe hiểu người kể đang nói về một ông vua, một viên quan cụ thể, đã được nhắc tới hoặc đang được đặt ra để kể tiếp. Nếu muốn ôn lại cấu tạo cụm danh từ có phần phụ sau, xem bài mô hình ba phần của cụm danh từ.
Chỉ từ định vị không gian và định vị thời gian
Cách chia gọn nhất dựa vào thứ được định vị.
| Kiểu | Chỉ từ hay gặp | Ví dụ |
|---|---|---|
| Định vị trong không gian | này, kia, ấy, đây, đấy, đó | cái bàn này, ngọn đồi kia, căn nhà đó |
| Định vị trong thời gian | nay, ấy, nọ, đó, bây giờ, bấy giờ | hôm nay, năm ấy, một đêm nọ |
Trong nhóm không gian còn có thể nhìn theo khoảng cách. Này, đây thường trỏ cái ở gần người nói; kia trỏ cái ở xa hơn nhưng vẫn thấy được; ấy, đó hay trỏ cái đã nhắc tới trước đó, có khi không có mặt trước mắt. Riêng nọ mang sắc thái xa và không xác định, nên truyện cổ tích rất chuộng: “một ngày nọ”, “nhà nọ”, “ông vua nọ”. Cách chia theo khoảng cách này chỉ mang tính gợi ý, vì nhiều chỉ từ chuyển qua lại giữa hai nhóm tùy câu.
Bốn bước tìm chỉ từ trong câu
- Tìm danh từ trước. Chỉ từ hầu như luôn bám theo một danh từ hoặc cụm danh từ, nên khoanh danh từ rồi nhìn ngay phía sau nó.
- Thử bỏ từ đang xét đi. Bỏ ấy trong “viên quan ấy” thì câu vẫn đúng ngữ pháp, nhưng viên quan mất tính xác định. Mất đi cảm giác “đúng cái đó” là dấu hiệu từ vừa bỏ là chỉ từ.
- Hỏi “ở đâu, lúc nào”. Từ ấy có trả lời được câu hỏi về vị trí hay thời điểm của sự vật không? Hôm nay trả lời được “lúc nào”, bên kia trả lời được “ở đâu”.
- Xem chức vụ. Chỉ từ đứng cuối cụm danh từ thì làm phụ ngữ. Nếu nó đứng một mình ở đầu câu và đi với “là” (Đó là…) thì nó làm chủ ngữ; nếu đứng trong một cụm chỉ thời gian ở đầu câu (Từ đấy,…) thì nó nằm trong trạng ngữ.
Chỉ từ là một trong những từ loại hay đi kèm danh từ nhất; bảng tổng hợp ở bài thực từ và hư từ trong tiếng Việt giúp đặt nó đúng chỗ trong toàn bộ hệ thống.
Chỉ từ trong truyện cổ tích và truyền thuyết
Các văn bản truyện dân gian ở lớp 6 là nơi chỉ từ xuất hiện dày nhất, vì người kể cần định vị nhân vật mà không thể nêu tên thật hay ngày tháng thật.
“Ông vua nọ”, “viên quan ấy” trong Em bé thông minh
Câu mở truyện có ông vua nọ, câu tiếp theo có viên quan ấy. Hai chỉ từ làm hai việc khác nhau: nọ đưa một nhân vật mới vào truyện, còn ấy trỏ lại nhân vật vừa nhắc, giữ mạch kể liền nhau. Đổi ấy thành nọ ở câu thứ hai thì người đọc sẽ tưởng đó là một viên quan khác.
“Từ đấy” trong Bánh chưng, bánh giầy
Câu “Từ đấy, nước ta chăm nghề trồng trọt chăn nuôi và có tục ngày Tết làm bánh chưng, bánh giầy” dùng đấy để trỏ về thời điểm Lang Liêu được nối ngôi. Ở đây chỉ từ nằm trong trạng ngữ chỉ thời gian, nối kết cuộc thi cỗ của nhà vua với phong tục còn kéo dài tới đời sau.
“Năm ấy”, “chiều hôm đó” trong Thạch Sanh
Đoạn Lí Thông lừa Thạch Sanh đi canh miếu có các cụm năm ấy, chiều hôm đó, đêm nay. Sách hỏi có thể thay chúng bằng từ khác không, và câu trả lời là khó: truyện cổ tích không có ngày tháng cụ thể, nên chỉ từ là cách duy nhất để định vị sự việc trên trục thời gian. Thiếu chúng, các sự việc trôi tuột vào nhau.
Chỉ từ còn giúp tránh lặp. Trong bài soạn truyền thuyết Thánh Gióng, đoạn kết về làng bị lửa thiêu cháy có thể rút ngắn thành làng ấy ở câu sau mà người đọc vẫn hiểu là làng nào.
Chỉ từ, đại từ hay thán từ: ba vai của chữ “này”
Một từ như này, đây, đó có thể đổi vai tùy vị trí, nên đề trắc nghiệm rất hay gài ở đây.
| Câu | Chữ in đậm là | Vì sao |
|---|---|---|
| Quyển sách này của bạn Lan. | Chỉ từ | Đứng sau danh từ “quyển sách”, định vị quyển sách |
| Này, cậu để quên mũ rồi! | Thán từ gọi đáp | Đứng tách riêng đầu câu, dùng để gọi, không đi với danh từ nào |
| Đây là ngôi trường của em. | Chỉ từ làm chủ ngữ (một số tài liệu xếp vào đại từ) | Đứng một mình thay cho sự vật đang được trỏ tới |
| Ai cũng biết chuyện đó. | Chỉ từ | Đi sau danh từ “chuyện”, trỏ lại điều đã nói |
Ở trường hợp thứ ba, sách cũ gọi đây, đó là chỉ từ giữ chức vụ chủ ngữ, nhưng một số giáo trình ngữ pháp và sách mới lại xếp các từ đứng thay sự vật vào nhóm đại từ. Làm bài theo bộ sách nào thì gọi tên theo bộ đó; còn bản chất “trỏ vào sự vật” thì không đổi. Bài các loại đại từ và cách nhận biết có bảng để so sánh kĩ hơn. Phân biệt với thán từ thì dễ: này gọi người thì luôn tách khỏi câu bằng dấu phẩy và không bổ nghĩa cho danh từ nào.
Năm câu luyện chỉ từ có đáp án
Câu 1: Tìm chỉ từ trong câu “Ngày xưa có ông vua nọ sai một viên quan đi dò la khắp nước tìm người tài giỏi” và cho biết nó định vị sự vật trong không gian hay thời gian.
Đáp án: Chỉ từ là nọ trong ông vua nọ. Nó định vị nhân vật trong không gian, tách ông vua này khỏi những ông vua khác, đồng thời gợi sắc thái xa xưa, không xác định của truyện cổ tích.
Câu 2: Xác định chức vụ của chỉ từ trong hai câu: (a) “Đó là một điều chắc chắn.” (b) “Từ đấy, nước ta chăm nghề trồng trọt chăn nuôi.”
Đáp án: (a) Đó làm chủ ngữ, thay cho nội dung đã nói ở câu trước. (b) Đấy nằm trong cụm từ đấy, làm trạng ngữ chỉ thời gian.
Câu 3: Trong câu “Này, mai cậu mang hộ tớ cái thước này nhé!”, hai chữ “này” có giống nhau không?
Đáp án: Không. Chữ này đầu câu là thán từ dùng để gọi; chữ này sau “cái thước” là chỉ từ, định vị cái thước ở gần người nói.
Câu 4: Thay cụm từ in nghiêng bằng chỉ từ thích hợp: “Em đến chân núi Sóc từ sáng. Ở chân núi Sóc, gió thổi rất mạnh.”
Đáp án tham khảo: “Em đến chân núi Sóc từ sáng. Ở đấy, gió thổi rất mạnh.” Dùng đấy giúp câu sau không lặp tên địa danh mà vẫn rõ nghĩa nhờ câu trước.
Câu 5: Viết ba câu về lớp học, mỗi câu dùng một chỉ từ với một chức vụ khác nhau: phụ ngữ, chủ ngữ, trạng ngữ.
Đáp án tham khảo: “Chiếc bảng kia vừa được lau sạch.” (phụ ngữ của cụm danh từ) – “Đây là góc đọc sách của lớp em.” (chủ ngữ) – “Hôm ấy, cả lớp ở lại trang trí đến tối.” (nằm trong trạng ngữ chỉ thời gian).
Một lỗi nhỏ mà bài làm hay mắc: viết “cái này kia” hoặc “hôm nay này” trong văn viết. Hai chỉ từ chồng lên nhau chỉ hợp với lời nói thân mật, còn trên giấy chỉ nên giữ một từ.
Chỉ từ qua những tình huống làm bài
Chỉ từ là gì lớp 6, học ở bài nào?
Ở chương trình Ngữ văn 6 cũ, chỉ từ có một bài riêng ở tập một (trang 136–139), học sau số từ và lượng từ. Sách theo chương trình mới không còn bài cùng tên, nhưng các từ này, kia, ấy vẫn xuất hiện khi học cụm danh từ, đại từ và phép thế trong liên kết câu.
Chỉ từ thường đứng ở đâu trong câu?
Phần lớn đứng ngay sau danh từ, ở vị trí cuối cụm danh từ: ba cuốn vở mới này. Khi đứng một mình đầu câu với “là”, nó làm chủ ngữ; khi nằm trong cụm chỉ thời gian đầu câu, nó thuộc trạng ngữ.
Chỉ từ gồm những từ nào trong tiếng Việt?
Nhóm hay gặp nhất là này, kia, ấy, nọ, đây, đấy, đó; thêm các từ định vị thời gian như nay, bây giờ, bấy giờ. Danh sách không cố định tuyệt đối, vì một số từ có thể thuộc nhóm khác khi đổi vị trí.
Chỉ từ tiếng Anh là gì?
Các từ tương đương trong tiếng Anh là this, that, these, those, thường được gọi là demonstratives. Khác ở chỗ tiếng Anh đặt chúng trước danh từ (this book), còn tiếng Việt đặt sau (quyển sách này).