Chế độ mẫu hệ là cách tổ chức gia đình, dòng họ trong đó con cái được tính theo dòng mẹ: mang họ mẹ, thuộc về họ mẹ, và của cải thường truyền qua phía nữ. Hỏi mẫu hệ là gì cũng là hỏi về cái trục ấy. Ở Việt Nam, người Ê Đê, Gia Rai, M’nông, Chăm là những cộng đồng hay được nhắc tới khi nói về tục mẫu hệ.
| Nghĩa ngắn | Dòng dõi, họ tên và thừa kế tính theo bên mẹ |
| Gốc từ | Hán Việt 母系: mẫu (mẹ) + hệ (dòng, hệ thống) |
| Trái nghĩa | Chế độ phụ hệ: tính theo dòng cha |
| Dễ lẫn với | Mẫu quyền: phụ nữ nắm quyền lực trong cộng đồng |
| Tiếng Anh | matrilineality, matrilineal society |

Chế độ mẫu hệ: tính dòng họ theo mẹ
Hãy tưởng tượng một đứa trẻ ra đời và câu hỏi đầu tiên của cả làng là: “Con nhà ai?”. Ở xã hội người Kinh xưa, câu trả lời gần như luôn là nhà bố. Trong một xã hội mẫu hệ, câu trả lời là nhà mẹ. Đứa bé mang họ mẹ, lớn lên trong ngôi nhà của dòng mẹ, và khi lớn, việc dựng vợ gả chồng cũng do họ hàng bên mẹ đứng ra lo liệu.
Các từ điển tiếng Việt giảng mẫu hệ là chế độ gia đình mà quyền thừa kế của cải và tên họ thuộc dòng người mẹ, đối lập với phụ hệ. Có từ điển gắn nó với thời thị tộc nguyên thủy. Cách gắn ấy chịu ảnh hưởng của các học giả thế kỷ 19 như Lewis H. Morgan, người cho rằng mọi xã hội loài người đều từng đi qua giai đoạn mẫu hệ. Nhân học thế kỷ 20 phần lớn không còn theo thuyết “giai đoạn chung” đó; giới nghiên cứu xem mẫu hệ là một kiểu quan hệ họ hàng vẫn đang tồn tại ở nhiều cộng đồng trên thế giới.
Mẫu hệ, mẫu quyền, phụ hệ: ba chữ dễ lẫn
| Khái niệm | Trả lời câu hỏi | Ghi chú |
|---|---|---|
| Mẫu hệ | Con thuộc dòng họ nào? Của cải truyền cho ai? | Theo bên mẹ |
| Mẫu quyền | Ai nắm quyền quyết định trong cộng đồng? | Phụ nữ; xã hội mẫu hệ không nhất thiết là mẫu quyền |
| Mẫu cư | Vợ chồng cưới xong ở đâu? | Ở nhà bên vợ |
| Phụ hệ | Con thuộc dòng họ nào? | Theo bên cha, như phần lớn gia đình người Kinh |
Chỗ hay hiểu sai nhất: mẫu hệ không có nghĩa là phụ nữ cai trị đàn ông. Ở nhiều cộng đồng mẫu hệ, việc làng, việc cúng tế vẫn do đàn ông đứng ra; cái thuộc về phía nữ là dòng họ, nhà cửa, ruộng nương. Chuyện ngược lại, khi người đàn ông nắm hết quyền trong nhà, đã có tên riêng là gia trưởng, được giải thích ở bài thói gia trưởng trong gia đình.
Nhận ra một xã hội mẫu hệ qua nếp nhà
Không cần đọc sách dân tộc học, có thể nhận ra dấu vết mẫu hệ qua những chi tiết rất đời thường:
- Họ của con: con mang họ mẹ. Ở người Ê Đê, đây là tục được ghi nhận rộng rãi.
- Người đi hỏi: nhà gái chủ động. Người Ê Đê có lễ hỏi chồng, cô gái nhờ người họ hàng bên mình, thường là một người cậu, mang vòng đồng, ché rượu sang nhà trai.
- Nơi ở sau cưới: chàng rể về sống trong nhà vợ.
- Của cải: nhà cửa, đất đai do phụ nữ trông giữ và truyền cho con gái.
- Kiến trúc: ngôi nhà dài của người Ê Đê nối thêm gian mỗi khi có con gái lấy chồng, nhà càng dài là dòng họ càng đông.
Muốn xem ngôi nhà ấy được tả kỹ thế nào trong sách Ngữ văn, có bài soạn văn bản về nhà dài người Ê-đê.
Đăm Săn và tục nối dây trong sử thi Ê Đê
Học sinh lớp 10 gặp chế độ mẫu hệ qua sử thi Đăm Săn. Theo tục nối dây (chuê nuê), khi người vợ mất, người chồng phải lấy một người con gái khác trong dòng họ vợ để giữ mối dây giữa hai nhà. Đăm Săn phải làm chồng hai chị em Hơ Nhị, Hơ Bhị theo đúng tục ấy, dù ban đầu chàng không muốn.
Nhiều nhà nghiên cứu đọc cuộc đời Đăm Săn như hình ảnh một xã hội mẫu hệ vẫn còn mạnh nhưng đã có chỗ rạn: người anh hùng nam giới muốn tự quyết, muốn vượt khỏi khuôn của dòng họ vợ. Cuộc phiêu lưu đi bắt Nữ Thần Mặt Trời cũng nằm trong mạch ấy, xem tóm tắt ở bài tóm lược đoạn Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời.
Từ đâu có mẫu hệ và vì sao nó đổi thay?
Không có một câu trả lời chung cho mọi nơi. Các giả thuyết hay được nhắc gồm: nhận biết mẹ của đứa trẻ thì chắc chắn, còn cha thì không phải lúc nào cũng rõ; ở những vùng trồng trọt, phụ nữ gắn với nương rẫy và nhà cửa nên giữ luôn tài sản; nam giới hay đi xa săn bắn, buôn bán, chinh chiến. Đây là các cách giải thích, chưa phải kết luận chung của giới nghiên cứu.
Tác động của mẫu hệ thì dễ thấy hơn. Người phụ nữ có chỗ đứng vững trong gia đình; trẻ con có cả một dòng họ mẹ làm điểm tựa. Mặt khác, các tục như nối dây có lúc ràng buộc đời riêng của cả đàn ông lẫn phụ nữ. Ở Việt Nam, giao lưu với người Kinh, luật hôn nhân và đời sống mới khiến nhiều cộng đồng mẫu hệ đổi thay: có nơi con đã mang họ cha, có nơi vợ chồng ra ở riêng, nhưng lễ hỏi chồng của người Ê Đê vẫn còn được giữ ở nhiều buôn Đắk Lắk.
Mẫu hệ ở Tây Nguyên, Ninh Thuận và xa hơn nữa
Mẫu hệ là gì?
Mẫu hệ là dòng dõi tính theo họ mẹ. Khi dòng dõi ấy trở thành luật lệ chung về họ tên, hôn nhân, thừa kế của cả cộng đồng thì gọi là chế độ mẫu hệ.
Chế độ phụ hệ là gì?
Là cách tổ chức ngược lại: con mang họ cha, thuộc dòng họ cha, gia sản truyền theo bên nội. Phần lớn gia đình người Kinh xưa theo phụ hệ, nên mới có những tục như thờ cúng tổ tiên bên nội, con trưởng giữ hương hỏa.
Ở Việt Nam, dân tộc nào theo chế độ mẫu hệ?
Thường được kể tới là các dân tộc nói ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo như Ê Đê, Gia Rai, Chăm, Raglai, Chu Ru, cùng người M’nông ở Tây Nguyên. Mức độ giữ tục mẫu hệ khác nhau giữa các nhóm và đang thay đổi nhiều.
Chế độ mẫu quyền có giống mẫu hệ không?
Không. Mẫu quyền nói về việc phụ nữ nắm quyền lực trong cộng đồng; mẫu hệ nói về chuyện dòng họ, thừa kế theo bên mẹ. Một xã hội có thể mẫu hệ mà quyền điều hành vẫn ở trong tay đàn ông.