Cách điệu là cách thể hiện sự vật trong nghệ thuật bằng việc chọn giữ và làm nổi bật vài nét tiêu biểu nhất, lược bỏ hoặc biến đổi phần còn lại, thay vì vẽ, diễn, tả y như thật. Khi nói về quá trình làm việc ấy, người ta hay dùng động từ cách điệu hóa. Từ này gặp ở mỹ thuật, sân khấu chèo, tuồng, thời trang và cả trong văn chương trung đại.
| Khái niệm | Thể hiện đối tượng bằng nét tiêu biểu được chọn lọc, đơn giản hóa hoặc phóng đại, không sao chép nguyên mẫu |
| Thuộc | Thủ pháp tạo hình, biểu diễn của nghệ thuật (không phải biện pháp tu từ) |
| Dấu hiệu nhận biết | Ít chi tiết, đường nét theo một nhịp hoặc quy ước, vẫn nhận ra đối tượng |
| Gốc từ | Hán Việt 格調; tiếng Anh tương ứng: stylization |

Cách điệu: giữ cái hồn, bỏ bớt cái xác
Hãy nhìn bông sen in trên bìa một cuốn sách. Không có gân lá, không có giọt nước, không có bóng đổ; chỉ còn vài cánh cong úp vào nhau. Ấy vậy mà ai nhìn cũng biết đó là hoa sen. Bông sen ấy đã được cách điệu. Từ điển tiếng Việt dùng chính ví dụ hoa sen trên bìa sách để giảng chữ cách điệu hóa: thể hiện thành hình tượng nghệ thuật bằng cách chọn lấy và làm nổi bật những nét tiêu biểu nhất.
Lý thuyết mỹ thuật phương Tây gọi việc này là stylization: trình bày đối tượng theo lối giản lược thay vì cố đạt sự giống hệt, để có hiệu quả đẹp hoặc biểu cảm hơn. Hai cách giải thích gặp nhau ở một điểm. Cách điệu không phải vẽ sai, mà là chủ ý bỏ bớt cái vụn vặt để cái cốt lõi nổi lên.
Về chữ, 格調 vốn là từ Hán Việt. Cách (格) có nghĩa khuôn phép, lề lối; điệu (調) là giọng, nhịp. Trong văn chương cũ, cách điệu từng dùng để chỉ phong thái, giọng điệu của một bài thơ hay dáng đi đứng của một người. Nghĩa “biến đổi hình thức cho có phong cách” là nghĩa mỹ thuật hiện đại, nay đã thành nghĩa chính.
Nhận ra một hình ảnh cách điệu bằng cách nào?
Đặt một hình cách điệu cạnh ảnh chụp cùng đối tượng, sẽ thấy bốn chỗ khác:
- Ít chi tiết hơn hẳn. Lông chim, vân gỗ, nếp áo bị lược đi; chỉ còn khối và đường viền chính.
- Đường nét đi theo một nhịp hoặc một quy ước. Cánh chim thành những răng cưa đều nhau, sóng nước thành các vòng xoắn lặp lại.
- Có chỗ được phóng đại. Mỏ dài hơn, mắt to hơn, động tác rộng hơn ngoài đời, để nét đặc trưng hiện rõ.
- Vẫn nhận ra đối tượng. Nếu biến đổi tới mức không ai biết là con gì, cái gì, thì đó đã là hình trừu tượng chứ không còn là cách điệu.
Điểm thứ tư là ranh giới quan trọng nhất khi làm bài. Cách điệu luôn đứng giữa hai đầu: một đầu là tả thực, đầu kia là trừu tượng.
Cách điệu trên trống đồng, chiếu chèo và trong Truyện Kiều
Chim Lạc trên mặt trống đồng Đông Sơn
Quanh ngôi sao nhiều cánh ở giữa mặt trống đồng Đông Sơn là các vòng hoa văn, trong đó có đàn chim bay nối nhau. Những con chim ấy được tạo hình bằng đường nét hình học: mỏ dài, cánh xòe, đuôi xếp như nan quạt, không con nào giống ảnh chụp một loài chim cụ thể. Nhờ được cách điệu đồng loạt, đàn chim tạo thành một vòng chuyển động đều, vừa là trang trí vừa là biểu tượng.
Động tác trên sân khấu chèo, tuồng
Sân khấu truyền thống của ta giàu tính ước lệ và cách điệu. Nghệ sĩ không đánh võ thật mà biến tấu động tác võ cho hợp sân khấu, thành vũ đạo; không khóc cười như ngoài đời mà theo điệu bộ, làn điệu riêng. Đọc trích đoạn cảnh Xúy Vân giả điên trong vở Kim Nham sẽ thấy cơn điên giả của nhân vật hiện ra qua lời hát và điệu bộ chèo, chứ không diễn như một người điên ngoài đường. Nguồn gốc và đặc trưng của chèo có ở bài nghệ thuật chèo sân đình; câu hỏi SGK của trích đoạn có ở bài soạn Xúy Vân giả dại lớp 10.
Chân dung Thúy Vân của Nguyễn Du
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Nguyễn Du không tả mắt, mũi, chiều cao của Thúy Vân. Ông chọn vài nét (khuôn mặt, lông mày, nụ cười, giọng nói, mái tóc, làn da) rồi đặt mỗi nét cạnh một hình ảnh thiên nhiên quý: trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết. Vẻ đẹp con người được nâng lên thành một vẻ đẹp mẫu mực, phúc hậu. Giới nghiên cứu gọi đây là bút pháp ước lệ, một dạng cách điệu trong văn chương trung đại. Phân tích đầy đủ có ở bài đoạn trích tả hai chị em họ Vương.
Cách điệu, ước lệ và tượng trưng khác nhau thế nào?
| Khái niệm | Làm gì với đối tượng | Ví dụ |
|---|---|---|
| Cách điệu | Biến đổi hình thức: lược bớt, phóng đại, cho đường nét theo nhịp | Hoa sen trên bìa sách, chim Lạc trên trống đồng |
| Ước lệ | Dùng những hình ảnh, động tác đã thành quy ước chung, người xem, người đọc tự hiểu | Tả người đẹp bằng “khuôn trăng”, “nét ngài” |
| Tượng trưng | Dùng một hình ảnh để gợi một ý nghĩa ngoài nó | Cây tùng tượng trưng cho người quân tử |
| Tả thực | Ghi lại đúng như thật, càng giống càng tốt | Ảnh chụp, tranh hiện thực |
Ba khái niệm đầu hay đi chung nên dễ lẫn. Mẹo nhớ: cách điệu trả lời câu “hình dạng bị biến đổi ra sao”, ước lệ trả lời câu “quy ước nào giúp người xem hiểu”, tượng trưng trả lời câu “hình ảnh này mang ý nghĩa gì”. Một hình chim Lạc có thể vừa được cách điệu (về nét vẽ) vừa mang tính tượng trưng (về ý nghĩa). Muốn đi sâu phần ý nghĩa, xem bài khái niệm biểu tượng trong văn học.
Luyện tập nhận biết cách điệu
Câu 1: Câu nào dùng từ “cách điệu” đúng nghĩa?
a) Cổng chùa trang trí họa tiết rồng mây được cách điệu.
b) Bạn ấy cách điệu bài toán nên giải nhanh hơn.
c) Bộ sưu tập dùng họa tiết sóng nước cách điệu trên vạt áo.
Đáp án: a và c. Câu b sai vì cách điệu chỉ dùng cho việc thể hiện hình thức trong nghệ thuật, thiết kế; giải toán thì dùng “đơn giản hóa” hoặc “rút gọn”.
Câu 2: Trong ba câu thơ tả Thúy Vân ở trên, nét nào của nhân vật được chọn và được so với hình ảnh gì?
Đáp án: khuôn mặt ↔ trăng; lông mày (nét ngài) ↔ con ngài; nụ cười ↔ hoa; tiếng nói ↔ ngọc; mái tóc ↔ mây; làn da ↔ tuyết. Tác dụng: vẻ đẹp được nâng thành mẫu mực, hài hòa với thiên nhiên, và gợi trước một số phận êm ả.
Câu 3: Một bức ảnh chụp con gà trống và một bức tranh Đông Hồ vẽ gà trống, bức nào có tính cách điệu? Vì sao?
Đáp án: Bức tranh Đông Hồ. Lông gà được vẽ thành các mảng màu và nét cong đều, mào và đuôi được làm to hơn ngoài đời, nhưng người xem vẫn nhận ra ngay con gà trống. Bức ảnh ghi lại đúng như thật nên là tả thực.
Câu 4: Điền từ thích hợp (cách điệu, ước lệ, tượng trưng) vào chỗ trống.
(1) Logo câu lạc bộ là hình con chim được … chỉ còn ba nét cong.
(2) Trong thơ cổ, “tóc mây”, “mặt hoa” là lối tả …
(3) Chim bồ câu trắng … cho hòa bình.
Đáp án: (1) cách điệu; (2) ước lệ; (3) tượng trưng.
Cách điệu trong thời trang, thiết kế và tiếng Anh
Cách điệu hóa là gì?
Là quá trình biến một đối tượng thật thành hình tượng cách điệu: chọn nét tiêu biểu, lược bớt chi tiết, sắp lại đường nét. Cách điệu thường dùng như tính từ (hoa văn cách điệu), cách điệu hóa nhấn vào việc làm.
Áo dài cách điệu là gì?
Là áo dài đã được biến tấu so với kiểu truyền thống: tà ngắn hơn, tay lỡ, cổ khác, phối thêm họa tiết, nhưng vẫn giữ dáng áo dài để người nhìn nhận ra. Chữ cách điệu ở đây đúng tinh thần gốc: đổi hình thức mà giữ cái hồn.
Cách điệu có phải là biện pháp tu từ không?
Không. Các biện pháp tu từ học trong SGK là so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ… Cách điệu là thủ pháp tạo hình, biểu diễn của nghệ thuật nói chung; trong văn chương nó hiện ra qua bút pháp, như lối tả ước lệ.
Cách điệu tiếng Anh là gì?
Danh từ là stylization (Anh – Anh: stylisation), tính từ là stylized. Ví dụ: a stylized lotus là một bông sen cách điệu.