Chèo là loại hình kịch hát dân gian cổ truyền của người Việt, nở rộ ở vùng châu thổ Bắc Bộ, kết hợp hát, múa, nhạc và diễn trò. Cùng một chữ, chèo còn là mái chèo dùng để bơi thuyền và là động từ chỉ việc gạt nước cho thuyền đi. Khi hỏi hát chèo là gì hay nghệ thuật chèo là gì, người ta muốn nói đến nghĩa sân khấu.
| Nghĩa | (1) Kịch hát dân gian cổ truyền Bắc Bộ; (2) mái chèo; (3) gạt nước cho thuyền đi |
| Gốc từ | Thuần Việt, chữ Nôm ghi bằng chữ 掉 và một số chữ khác |
| Vùng phát triển | Đồng bằng sông Hồng, lan ra trung du và Bắc Trung Bộ |
| Dịp diễn xưa | Hội làng, lễ hội mùa xuân, lúc nông nhàn |
| Thành phần | Tích trò, làn điệu hát, múa, dàn nhạc với trống chèo giữ nhịp |

Chèo: từ mái chèo đến chiếu chèo
Từ điển tiếng Việt tách chèo thành ba mục. Danh từ thứ nhất là dụng cụ bơi thuyền: một thanh dài, đầu trên tròn có tay nắm, đầu dưới dẹp và rộng bản, như trong buông dầm cầm chèo. Động từ là dùng mái chèo gạt nước cho thuyền đi: chèo thuyền, chèo đò, câu tục ngữ vụng chèo khéo chống. Danh từ thứ hai là kịch hát dân gian cổ truyền với làn điệu bắt nguồn từ dân ca Bắc Bộ: hát chèo, diễn chèo.
Nghĩa sông nước còn để lại vài lối nói bóng. Chèo chống là gồng gánh qua lúc khó: “một mình mẹ chèo chống cả nhà”. Xuôi chèo mát mái là mọi việc trôi chảy. Hai cách nói này không liên quan đến sân khấu.
Chèo với nghĩa sân khấu được diễn ở sân đình, trên một chiếc chiếu trải giữa sân. Từ đó mới có chữ chiếu chèo để chỉ một gánh hát, và cụm chèo sân đình để gọi lối chèo làng nguyên gốc.
Âm “ch” và “tr” đọc gần nhau ở nhiều vùng nên có người viết nhầm thành “trèo”; cách phân biệt hai chữ có ở bài chèo thuyền hay trèo cây, chữ nào đi với nghĩa nào.
Chèo có từ bao giờ?
Câu trả lời thật thà là chưa có mốc chắc chắn. Nhiều tài liệu tiếng Việt đặt điểm khởi đầu vào thế kỷ X, thời nhà Đinh ở kinh đô Hoa Lư, gắn với truyền thuyết về một nữ nghệ nhân trong cung. Có tài liệu khác lại cho rằng hát chèo xuất hiện từ thời Lý. Các nghệ nhân ở những làng chèo cổ thì thường chỉ bảo rằng ông bà truyền lại, không ai biết đích xác từ đời nào.
Điều mà các nguồn cùng thống nhất là cái nôi của chèo: đồng bằng sông Hồng, vùng lúa nước. Chèo lớn lên từ trò diễn, dân ca, múa dân gian trong những ngày hội làng, những lúc xong vụ mùa. Vì sinh ra ở làng, chèo kể chuyện của người làng: anh học trò nghèo, người vợ chung thủy, kẻ quyền thế bị đem ra giễu. Cái thiện thường thắng, người tốt được đền đáp, kết thúc có hậu.
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Hà Nội đều còn những làng chèo lâu đời; làng Khuốc ở Thái Bình hay được nhắc như một cái nôi của chèo truyền thống. Sang thế kỷ XX, chèo rời sân đình lên sân khấu thành thị và có các nhà hát chèo chuyên nghiệp.
Một chiếu chèo có những gì?
Tích trò
Câu chuyện của vở chèo gọi là tích trò, phần lớn lấy từ truyện cổ tích và truyện thơ Nôm. Những vở chèo cổ quen thuộc nhất là Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên.
Làn điệu và trống chèo
Chèo có hàng trăm làn điệu, chia thành các hệ như hát đường trường, hát sắp, hát đối đáp trữ tình; nhiều điệu mang bóng dân ca Bắc Bộ như đò đưa, lới lơ. Dàn nhạc có đàn nhị, đàn nguyệt, sáo, và quan trọng nhất là trống chèo giữ nhịp cho hát, cho múa. Tiếng trống ấy quen tai đến mức đi vào ca dao:
Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem
Câu này có nhiều dị bản; có bản chép “nghe thấy trống chèo”, có bản chép “vỗ bụng đi xem”.
Các vai
Nhân vật chèo đi theo khuôn ước lệ: kép (nam chính, thường là thư sinh), đào (nữ chính, có đào thương hiền thục và đào lệch lẳng lơ), lão, mụ và hề. Hề là vai gây cười và châm biếm: hề áo ngắn là người dân thấp cổ bé họng nhưng miệng lưỡi sắc, hề áo dài là kẻ có chức có quyền mà ngu dốt, bị đem ra làm trò cười.
Từ động tác chèo đò đến dáng đi của các vai đều được tiết chế, làm đẹp theo lối cách điệu, chứ không bắt chước y hệt đời thực.
Chèo, tuồng và cải lương khác nhau ở đâu?
| Tiêu chí | Chèo | Tuồng | Cải lương |
|---|---|---|---|
| Vùng gắn bó | Đồng bằng Bắc Bộ | Gắn với sân khấu cung đình, mạnh ở miền Trung | Nam Bộ |
| Nhân vật trung tâm | Người dân làng quê, thư sinh, người phụ nữ | Tướng lĩnh, vua quan, anh hùng | Đa dạng, gần đời sống thị dân |
| Không khí | Trữ tình, hóm hỉnh, nhiều tiếng cười | Bi tráng, trang nghiêm | Mùi mẫn, giàu cảm xúc |
Một mẹo nhớ: tuồng ca ngợi người anh hùng, chèo kể chuyện người làng, cải lương ngân lên nỗi lòng người thành thị.
Chèo trong sách Ngữ văn
Sách Ngữ văn 10 của các bộ hiện hành chọn một số trích đoạn chèo cổ quen thuộc. Trích đoạn Xúy Vân giả dại trong vở Kim Nham có lớp diễn “giả điên” nổi tiếng, nơi một người vợ dùng lời hát nửa tỉnh nửa mê để nói nỗi khổ của mình. Cảnh Thị Mầu lên chùa trong Quan Âm Thị Kính là đất diễn kinh điển của vai đào lệch. Còn trích đoạn Xã trưởng – Mẹ Đốp là bài học đẹp về hai kiểu hề, nơi người dân dùng tiếng cười để đáp lại kẻ có quyền.
Đọc chèo trên giấy chỉ thấy một nửa. Lời trong trích đoạn thường ngắn, câu lục bát lẫn câu nói thường; cái hay nằm ở làn điệu và động tác. Nên xem ít nhất một clip trích đoạn trước khi viết bài phân tích, để biết chữ “hát” trong hát chèo thật ra nặng đến mức nào.
Chèo qua những câu học trò hay gõ
Hát chèo là gì?
Là lối hát trong sân khấu chèo, có thể hát một người, hai người hay cả nhóm. Lời hát lấy nhiều từ thơ lục bát, ca dao; làn điệu bắt nguồn từ dân ca Bắc Bộ.
Chèo là danh từ hay động từ?
Cả hai. Danh từ khi chỉ loại hình sân khấu (xem chèo) hoặc mái chèo; động từ khi chỉ việc bơi thuyền (chèo đò). Đọc cả câu là biết từ đang dùng nghĩa nào.
Chèo cổ và chèo mới khác nhau thế nào?
Chèo cổ là các vở, các trích đoạn lưu truyền từ trước, diễn theo lối ước lệ của sân đình. Chèo mới là những vở sáng tác sau này, lấy đề tài hiện đại, dàn dựng trên sân khấu nhà hát với ánh sáng, phông cảnh.
“Chèo SUP” có phải là chèo không?
Không. Đó là môn thể thao đứng trên ván và dùng mái chèo đẩy đi, nên chỉ mượn nghĩa “chèo” sông nước. Cách gọi tên môn này có ở bài giải nghĩa chữ SUP và môn chèo ván đứng.