Chùm ca dao về quê hương đất nước là văn bản đọc đầu tiên của Bài 4 (Quê hương yêu dấu) trong sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức tập một (trang 90 – 92). Chỉ với ba bài ca dao ngắn, người đọc được đi một vòng từ Hồ Tây của Thăng Long, lên xứ Lạng rồi vào xứ Huế mộng mơ. Bài viết dưới đây giới thiệu toàn văn, kiến thức về thể thơ lục bát, thông tin tác giả dân gian, xuất xứ, bố cục, nội dung từng bài và sơ đồ tư duy của chùm ca dao.
Nội dung văn bản Chùm ca dao về quê hương đất nước
Ca dao là sáng tác dân gian, không thuộc diện bảo hộ quyền tác giả. Dưới đây là toàn văn ba bài theo cách in trong SGK (ca dao có nhiều dị bản, khi làm bài em dùng đúng bản trong sách).

Bài 1
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Bài 2
Đường lên xứ Lạng bao xa?
Cách một trái núi với ba quãng đồng.
Ai ơi, đứng lại mà trông:
Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ.
Bài 3
Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá,
Đò về Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình.
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh,
Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non.
Tìm hiểu chung về ca dao và thơ lục bát
Ca dao là gì?
Ca dao là những bài thơ trữ tình dân gian do nhân dân lao động sáng tác, truyền miệng từ đời này sang đời khác. Ca dao thường ngắn gọn, lời lẽ mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, dùng để bày tỏ tình cảm, tâm tư của người bình dân: tình yêu quê hương, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, cả những tiếng cười châm biếm. Khi được hát lên theo một làn điệu, ca dao trở thành lời của dân ca.
Thơ lục bát và lục bát biến thể
Phần lớn ca dao được viết theo thể lục bát – thể thơ dân tộc mà Bài 4 giúp em làm quen:
- Số dòng: các cặp câu nối tiếp nhau, câu sáu tiếng (câu lục) đi trước, câu tám tiếng (câu bát) theo sau.
- Gieo vần: tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát; tiếng thứ tám của câu bát lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục tiếp theo. Vần trong lục bát chủ yếu là vần bằng.
- Thanh điệu: các tiếng thứ hai, sáu, tám thường là thanh bằng, tiếng thứ tư là thanh trắc; trong câu bát, tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám đều thanh bằng nhưng một tiếng mang thanh huyền thì tiếng kia mang thanh ngang.
- Nhịp: chủ yếu là nhịp chẵn (2/2/2, 4/4…).
Lục bát biến thể là những bài vẫn giữ “dáng” lục bát nhưng không theo đúng hoàn toàn các quy định trên: số tiếng trong dòng nhiều hơn hoặc ít hơn, vần hoặc thanh điệu đặt khác đi. Bài ca dao số 3 trong chùm là một ví dụ.
Thông tin tác giả dân gian
Ba bài ca dao không có tác giả cụ thể. Chúng là sáng tác tập thể của nhân dân lao động qua nhiều thế hệ: một người cất lên, nhiều người nghe, nhớ, rồi sửa chữa, thêm bớt khi truyền lại. Vì thế mỗi bài có thể có vài dị bản khác nhau đôi chữ tùy vùng miền và người sưu tầm. Khi nói “tác giả” của chùm ca dao, ta gọi chung là tác giả dân gian – những người dân bình thường nhưng có tâm hồn rất nhạy cảm với cái đẹp của quê hương.
Điều đáng quý là tác giả dân gian đã gửi vào mấy câu hát ngắn cả một tấm bản đồ văn hóa của đất nước: tên làng, tên phố, tên núi, tên sông được nhắc đến bằng niềm tự hào và tình yêu tha thiết.
Thông tin tác phẩm Chùm ca dao về quê hương đất nước
Xuất xứ
Theo các tài liệu hướng dẫn học SGK, bài 1 và bài 3 được lấy từ bộ “Kho tàng ca dao người Việt”, bài 2 lấy từ cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” (công trình sưu tầm của Vũ Ngọc Phan). Cả ba bài vốn đã được lưu truyền rộng rãi trong dân gian từ rất lâu trước khi được ghi chép lại.
Thể loại, thể thơ, phương thức biểu đạt
- Thể loại: ca dao trữ tình.
- Thể thơ: bài 1 và bài 2 là lục bát (mỗi bài 4 dòng, hai cặp lục – bát); bài 3 là lục bát biến thể.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, kết hợp miêu tả.
Bố cục – Chùm ca dao về quê hương đất nước có mấy phần?
Văn bản gồm 3 bài ca dao, mỗi bài vẽ một miền quê:
- Bài 1: cảnh Thăng Long – Hồ Tây buổi sớm mai, nên thơ và yên bình.
- Bài 2: con đường lên xứ Lạng với núi sông vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.
- Bài 3: cảnh sông nước xứ Huế dưới trăng, vang tiếng hò tha thiết.
Ba bài đi theo hướng từ Bắc vào Trung, cùng chung một tình cảm: yêu mến, tự hào về vẻ đẹp quê hương đất nước.
Tìm hiểu bài ca dao số 1
Bài ca dao như một bức tranh vẽ Hồ Tây lúc trời vừa rạng. Câu mở đầu tả cành trúc nghiêng theo gió, từ láy “la đà” gợi dáng mềm mại, chậm rãi. Câu thứ hai đưa vào âm thanh: tiếng chuông đền Trấn Võ (đền Quán Thánh bên Hồ Tây) và tiếng gà gáy sang canh ở Thọ Xương (tên một huyện của kinh thành xưa). Câu thứ ba phủ lên cảnh vật lớp sương khói mờ ảo, còn câu cuối khép lại bằng nhịp chày giã giấy của làng Yên Thái – làng nghề làm giấy dó nổi tiếng – và mặt hồ phẳng lặng sáng như gương.
Tác giả dân gian dùng âm thanh để làm nổi bật sự yên tĩnh (lấy động tả tĩnh): nghe rõ được tiếng chuông, tiếng gà, tiếng chày nghĩa là không gian rất tĩnh lặng. Cụm từ “mặt gương Tây Hồ” là phép ẩn dụ, ví mặt nước Hồ Tây trong và phẳng như tấm gương khổng lồ. Về thể thơ, bài ca dao theo đúng luật lục bát: “đà” vần với “gà”, “sương” vần với “Xương” và “gương”; nhịp chẵn 2/2/2 đều đặn như nhịp chày. Bức tranh nhỏ ấy chứa cả niềm tự hào về một Thăng Long vừa đẹp, vừa có nếp sống, nếp làm nghề lâu đời.
Tìm hiểu bài ca dao số 2
Bài ca dao mở đầu bằng một câu hỏi tu từ: “Đường lên xứ Lạng bao xa?” Người hỏi không cần một con số chính xác; câu trả lời “Cách một trái núi với ba quãng đồng” cho thấy đường xa mà không xa, núi đồng xen nhau, cảnh vật trải dài. Hai câu sau là lời gọi mời tha thiết “Ai ơi, đứng lại mà trông” – “ai” là ai cũng được, là bất cứ người qua đường nào – như muốn mọi người cùng dừng chân ngắm cảnh. Điệp từ “kìa” lặp hai lần giống như ngón tay chỉ trỏ đầy hào hứng: này là núi thành Lạng, này là sông Tam Cờ.
Bài ca dao viết theo đúng thể lục bát: “xa” vần với “ba”, “đồng” vần với “trông”, rồi “trông” lại vần với “sông”; nhịp thơ linh hoạt, câu cuối ngắt 4/4 như hai lần chỉ tay. Qua đó, xứ Lạng hiện lên vừa hùng vĩ với núi non, vừa thơ mộng với dòng sông, đồng ruộng; người hát bộc lộ niềm tự hào và mong muốn chia sẻ vẻ đẹp quê mình với mọi người.
Tìm hiểu bài ca dao số 3
Bài ca dao số 3 đưa ta vào xứ Huế bằng một chuyến đò. Điệp từ “đò” mở đầu ba vế liên tiếp cùng các địa danh nối nhau (chợ Đông Ba, Đập Đá, Vĩ Dạ, ngã ba Sình) gợi con đò cứ thế trôi dọc dòng sông Hương, cảnh nọ tiếp cảnh kia. Hai câu cuối chuyển sang khung cảnh đêm: từ láy “lờ đờ” gợi ánh trăng chênh chếch, mờ nhạt; tiếng hò từ xa vọng lại mang theo bao tình cảm với “nước non”. Cả bài toát lên vẻ đẹp êm đềm, trầm lắng rất riêng của Huế.
Đây là bài lục bát biến thể:
- Số tiếng: hai dòng đầu đều có tám tiếng (lẽ ra dòng đầu chỉ có sáu tiếng), hai dòng sau mới trở lại 6 – 8.
- Vần: tiếng “Đá” ở cuối dòng 1 vần với tiếng “Dạ” ở dòng 2 – cả hai đều mang thanh trắc, khác với vần bằng quen thuộc; từ dòng 2 trở đi mới có vần bằng “Sình – chênh – tình”.
- Thanh điệu: tiếng thứ sáu của dòng 2 (“ngã”) là thanh trắc thay vì thanh bằng.
- Nhịp: hai dòng đầu ngắt nhịp 4/4, chậm rãi như nhịp chèo đò.
Giá trị nội dung
Chùm ca dao vẽ nên ba bức tranh đẹp của ba miền quê: Thăng Long cổ kính, nên thơ; xứ Lạng hùng vĩ; xứ Huế êm đềm, sâu lắng. Đằng sau những bức tranh ấy là tình yêu, niềm tự hào mà người dân dành cho quê hương, đất nước – tình cảm có lúc kín đáo, lặng lẽ, có lúc bật thành lời mời gọi tha thiết.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ lục bát và lục bát biến thể mềm mại, dễ thuộc, dễ nhớ.
- Dùng nhiều địa danh cụ thể, gắn liền với từng vùng đất.
- Biện pháp tu từ phong phú: ẩn dụ (“mặt gương Tây Hồ”), câu hỏi tu từ, điệp từ (“kìa”, “đò”), từ láy gợi hình (“la đà”, “lờ đờ”).
- Lấy âm thanh để gợi sự tĩnh lặng; giọng điệu tha thiết, tự hào.
Ý nghĩa của việc nhắc nhiều địa danh
Ca dao về quê hương rất hay “gọi tên” đất nước: tên đền, tên làng, tên hồ, tên sông. Mỗi địa danh vừa giúp người nghe nhận ra vùng đất cụ thể, vừa gợi lịch sử, nghề truyền thống và nét văn hóa riêng của nơi ấy. Nhắc tên quê mình trong câu hát cũng là một cách khoe, cách tự hào rất mộc mạc của người dân.
Sơ đồ tư duy Chùm ca dao về quê hương đất nước
Sơ đồ dưới đây giúp em ghi nhớ nhanh những ý chính của văn bản.

Lời kết
Khi ôn tập Chùm ca dao về quê hương đất nước, em cần nắm: tác giả là nhân dân lao động; ba bài thuộc thể lục bát (bài 3 là lục bát biến thể); mỗi bài vẽ một miền quê (Thăng Long – xứ Lạng – xứ Huế); nghệ thuật nổi bật là địa danh, ẩn dụ, câu hỏi tu từ, điệp từ; chủ đề chung là tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước. Hiểu chắc luật lục bát qua chùm ca dao này cũng giúp em làm tốt phần viết bài thơ lục bát ở cuối Bài 4.
Đề kiểm tra cuối kì có thể chọn ngữ liệu ngoài sách, nên em cần luyện thêm với đề có đáp án trong bài ôn tập học kì I Ngữ văn 6 Kết nối tri thức.
Muốn đi sâu hơn vào từng chi tiết nghệ thuật, em có thể đọc bài phân tích Chùm ca dao về quê hương đất nước với dàn ý và bài viết hoàn chỉnh.
Xem thêm: