Bổ ngữ là thành phần phụ đi kèm động từ hoặc tính từ, thường đứng ngay sau từ ấy, để nói rõ hành động hướng tới ai, cái gì, đạt tới đâu hay tính chất được so với cái gì. Trong đọc sách, chữ sách là bổ ngữ của đọc; trong giỏi toán, chữ toán là bổ ngữ của giỏi. Động từ hoặc tính từ cùng bổ ngữ tạo thành cụm động từ, cụm tính từ.
| Khái niệm | Thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ trung tâm |
| Nghĩa Hán Việt | 補語: bổ (bù vào, thêm cho đủ) + ngữ (lời, thành phần lời nói) |
| Thuộc | Thành phần của cụm động từ, cụm tính từ; thường nằm trong vị ngữ của câu |
| Dấu hiệu nhận biết | Đứng sau động từ, tính từ; trả lời câu hỏi “gì?”, “ai?”, “cho ai?”, “đến đâu?” |
| Tên trong SGK | Khi học cụm động từ, cụm tính từ (Ngữ văn 6–7), thường gọi chung là phụ ngữ sau |

Bổ ngữ trong sách ngữ pháp và trong sách Ngữ văn
Cái tên đã nói gần hết nghĩa. Bổ là bù vào cho đủ, như trong bổ sung; ngữ là thành phần của lời nói, như trong chủ ngữ, vị ngữ. Bổ ngữ vì thế là phần được thêm vào để động từ hay tính từ đủ nghĩa hơn.
Các sách ngữ pháp tiếng Việt mô tả bổ ngữ là thành phần phụ của động từ, tính từ, phần lớn đứng sau từ trung tâm. Nó cho biết đối tượng của hành động, người nhận, hướng, kết quả, mức độ, hoặc cái được dùng để so sánh. Giới nghiên cứu vẫn chưa thống nhất cách chia nhỏ bổ ngữ, nên mỗi giáo trình có thể gọi tên các loại hơi khác nhau.
Trong sách Ngữ văn ở trường, học sinh gặp bổ ngữ dưới một cái tên rộng hơn. Khi học cụm động từ và cụm tính từ, phần đứng trước từ trung tâm gọi là phụ ngữ trước (thường là đã, đang, sẽ, rất, hơi…), phần đứng sau gọi là phụ ngữ sau. Bổ ngữ chính là phần lớn những gì nằm ở vị trí phụ ngữ sau ấy. Bài các loại cụm từ và mô hình cấu tạo có sơ đồ đầy đủ của từng loại cụm.
Bổ ngữ có mấy loại
Chia theo ý nghĩa, có thể nhớ năm nhóm thường gặp sau:
| Loại bổ ngữ | Cho biết | Ví dụ (phần in đậm là bổ ngữ) |
|---|---|---|
| Bổ ngữ đối tượng trực tiếp | Hành động tác động thẳng vào ai, cái gì; không cần quan hệ từ | đọc truyện, giúp bạn, xây nhà |
| Bổ ngữ đối tượng gián tiếp | Người nhận, người cùng tham gia; hay đi với cho, với, về, đến | gửi thư cho bà, bàn với cô giáo |
| Bổ ngữ chỉ hướng, nơi đến | Hành động đi về đâu | chạy ra sân, trèo lên cây |
| Bổ ngữ chỉ kết quả, mức độ | Hành động, tính chất đạt tới đâu | mệt đến nỗi không đứng dậy được, làm xong bài |
| Bổ ngữ của tính từ | Phạm vi của tính chất hoặc cái để so sánh | giỏi toán, giống mẹ, cao hơn anh |
Có những động từ cần hai bổ ngữ cùng lúc. Trong câu Mẹ tặng em một chiếc cặp mới, em là người nhận, một chiếc cặp mới là vật được tặng. Đổi thành Mẹ tặng một chiếc cặp mới cho em thì người nhận chuyển sang dạng bổ ngữ gián tiếp, có chữ cho dẫn đầu.
Ba bước tìm bổ ngữ trong câu
- Tìm từ trung tâm. Xác định vị ngữ trước, rồi tìm động từ hoặc tính từ chính trong vị ngữ.
- Nhìn ngay phía sau và đặt câu hỏi. Đọc động từ rồi hỏi “gì?”, “ai?”, “cho ai?”, “với ai?”, “đi đâu?”, “đến mức nào?”. Phần trả lời đứng liền sau, gắn chặt với động từ, thường là bổ ngữ. Với tính từ, hỏi “về mặt gì?”, “so với ai?”.
- Thử bỏ đi. Nếu bỏ phần ấy mà câu thành cụt, như Lan tặng. hay Bố sửa., thì đó là bổ ngữ bắt buộc của động từ. Có bổ ngữ bỏ đi vẫn thành câu, nhưng nghĩa nghèo đi rõ rệt.
Dấu hiệu phụ: bổ ngữ ít khi bị tách khỏi động từ bằng dấu phẩy. Còn phần nào đứng đầu câu, ngăn với nòng cốt bằng dấu phẩy và chỉ thời gian, nơi chốn, mục đích thì nhiều khả năng là trạng ngữ.
Phân biệt bổ ngữ với trạng ngữ, định ngữ và tân ngữ
| Thành phần | Đi kèm | Vị trí quen thuộc | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Bổ ngữ | Động từ, tính từ | Ngay sau động từ, tính từ, trong vị ngữ | Em đọc truyện cổ tích. |
| Trạng ngữ | Cả nòng cốt câu | Đầu câu (có dấu phẩy), có khi giữa hoặc cuối câu | Tối qua, em đọc truyện cổ tích. |
| Định ngữ | Danh từ | Sau (hoặc trước) danh từ | Em đọc truyện cổ tích. |
| Tân ngữ | Động từ | Tên gọi khác của bổ ngữ đối tượng, quen dùng khi học ngoại ngữ | I read a book. |
Ví dụ thứ ba đáng để ý: truyện cổ tích là bổ ngữ của đọc, nhưng bên trong cụm ấy, cổ tích lại là định ngữ của danh từ truyện. Một từ có thể đóng hai vai ở hai tầng khác nhau. Muốn ôn lại kĩ hai thành phần kia, xem bài sáu loại trạng ngữ và dấu hiệu và bài vị trí, các kiểu định ngữ.
Bổ ngữ trong câu thơ, câu ca dao
Một câu Kiều tả cỏ xuân
Cỏ non xanh tận chân trời,
Tính từ xanh đi cùng bổ ngữ tận chân trời, cho biết màu xanh trải ra đến đâu. Câu này nằm trong đoạn tả cảnh mùa xuân mà học sinh gặp ở câu hỏi đọc hiểu đoạn trích Cảnh ngày xuân. Bỏ bổ ngữ đi, câu chỉ còn “cỏ non xanh” và mất ngay cảm giác thảm cỏ mênh mông không bờ. Bổ ngữ ở đây làm nên chiều rộng của bức tranh xuân.
Nỗi sợ đường xa trong ca dao miền Trung
Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
Động từ sợ lặp hai lần, mỗi lần đi với một bổ ngữ chỉ đối tượng: truông nhà Hồ (đoạn đường rừng hiểm trở) và phá Tam Giang (vùng nước sóng gió). Hai bổ ngữ là hai địa danh có thật, khiến lời từ chối của chàng trai vừa cụ thể vừa có chút tinh nghịch: không phải không thương, mà là đường khó đi quá.
Câu văn đời thường có nhiều bổ ngữ
Câu Chiều nay, bố dạy em cách thay săm xe đạp có dạy là động từ trung tâm, em là người được dạy, cách thay săm xe đạp là nội dung được dạy. Chiều nay đứng đầu câu, có dấu phẩy, là trạng ngữ chứ không phải bổ ngữ.
Bài tập tìm bổ ngữ có đáp án
Câu 1: Tìm bổ ngữ trong các cụm sau: viết thư, đi chợ, nhớ quê, giống bố.
Đáp án: thư (bổ ngữ đối tượng của viết), chợ (bổ ngữ chỉ nơi đến của đi), quê (bổ ngữ đối tượng của nhớ), bố (bổ ngữ của tính từ giống, chỉ người được đem ra so sánh).
Câu 2: Trong câu “Ngoài sân, lũ trẻ đang thả diều”, đâu là bổ ngữ, đâu là trạng ngữ?
Đáp án: Trạng ngữ là Ngoài sân (chỉ nơi chốn, đứng đầu câu, có dấu phẩy). Bổ ngữ là diều, đứng sau động từ thả, trả lời câu hỏi “thả gì?”.
Câu 3: Chỉ ra hai bổ ngữ của động từ trong câu “Cô giáo trả bài kiểm tra cho cả lớp”.
Đáp án: bài kiểm tra là bổ ngữ đối tượng trực tiếp (trả cái gì); cho cả lớp là bổ ngữ đối tượng gián tiếp (trả cho ai), có quan hệ từ cho dẫn đầu.
Câu 4: Thêm bổ ngữ để hoàn chỉnh các câu: “Em rất thích …”, “Bạn Nam cao …”, “Chị gửi …”.
Đáp án tham khảo: “Em rất thích môn Mĩ thuật.” – “Bạn Nam cao hơn tôi nửa cái đầu.” – “Chị gửi quà cho ông bà ở quê.” Câu cuối có hai bổ ngữ: một chỉ vật được gửi, một chỉ người nhận.
Những điều học sinh hay nhầm về bổ ngữ
Bổ ngữ có phải thành phần chính của câu không?
Không. Thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ. Bổ ngữ là thành phần phụ nằm bên trong cụm động từ, cụm tính từ, mà cụm ấy thường đảm nhận vai vị ngữ.
Bổ ngữ và tân ngữ có giống nhau không?
Tân ngữ (hay túc từ) là tên gọi quen dùng khi học tiếng Anh, tiếng Pháp, chỉ đối tượng của động từ. Trong tiếng Việt, nó tương ứng với bổ ngữ đối tượng. Còn bổ ngữ là khái niệm rộng hơn, gồm cả bổ ngữ chỉ hướng, kết quả, so sánh.
Bổ ngữ đứng ở đâu trong câu?
Phần lớn đứng ngay sau động từ hoặc tính từ mà nó bổ sung. Một số từ gợi tả cách thức có thể đổi chỗ, như cười khúc khích và khúc khích cười, nhưng đó là trường hợp ít gặp.
Bổ ngữ trong tiếng Trung có giống tiếng Việt không?
Cùng ý là phần đứng sau động từ để bổ sung kết quả, xu hướng, mức độ, nhưng tiếng Trung chia rất kĩ và có quy tắc riêng, như bổ ngữ kết quả, bổ ngữ xu hướng, bổ ngữ khả năng. Người học tiếng Trung có thể xem bảng các loại bổ ngữ trong tiếng Trung.